Sử ký - Tây Nam Di liệt truyện

 

Tây Nam Di liệt truyện

Sử ký – quyển 116

 

***

 

Người Di tây nam có hàng chục quân trưởng, trong đó Dạ Lang là lớn nhất. Phía tây có hàng chục dân lệ thuộc Mi Mạc (靡莫), trong đó Điền () là lớn nhất. Từ Điền về bắc có hàng chục quân trưởng, Cùng Đô (邛都) là lớn nhất. Những dân ấy đều búi tóc, cày ruộng, có làng ấp. Ngoài miền tây từ Đồng Sư (同師)về đông, bắc đến Điệp Du (榆), có Huề (巂), Côn Minh (昆明), đều bện tóc, di cư theo súc vật, không sống cố định, chẳng có quân trưởng, đất rộng chừng mấy nghìn lí. Từ Nhiễm về bắc có hàng chục quân trưởng, Tỷ () và Tạc Đô (筰都) là lớn nhất. Từ Tỷ về đông bắc có hàng chục quân trưởng, Nhiễm Mang (冄駹) là lớn nhất. Tục xứ này có dân sống cố định, có dân di cư, nằm ở phía tây đất Thục. Từ Nhiễm Mang về đông bắc có hàng chục quân trưởng, Bạch Mã (白馬) là lớn nhất, đều là giống người Đê (). Đấy đều là Man Di ngoài cõi tây nam Ba Thục vậy.

 

Vị trí các sắc dân thiểu số ở tây nam Trung Hoa vào thời Hán. Từ trên xuống: Bạch Mã,

Nhiễm Mang, Huề, Tạc Đô, Tỷ, Cùng Đô, Mi Mạc, Dạ Lang, Côn Minh, Điền.

Màu đỏ là dân du mục, vàng là bán du mục, xanh là định canh định cư


Ban đầu vào thời Sở Uy vương, sai tướng quân Trang Kiêu cầm binh đi tuần thượng nguồn sông Giang, lấy vùng đất từ Ba và Kiềm Trung về phía tây. Kiêu đến hồ Điền, đất rộng 300 lí, bện cạnh có đất bằng màu mỡ mấy nghìn lí, nên dùng binh uy bắt lệ thuộc Sở. [Kiêu] muốn về báo, thì gặp lúc Tần đánh chiếm các quận Ba và Kiềm Trung của Sở, đường tắc không thông nên trở lại. Kiêu dùng bộ chúng để làm vương đất Điền, đổi phục sức theo tục xứ này nhằm được lâu dài. Thời Tần, Thường Át mở đường năm thước [1], các nước ấy đều có đặt quan lại. Hơn mười năm sau, Tần bị diệt. Khi Hán hưng, đều bỏ các nước ấy mà mở cõi cũ của đất Thục. Dân Ba Thục có kẻ lén ra ngoài buôn bán, mua được ngựa Tạc, trẻ con người Bặc () và bò lông [2], vì thế Ba Thục giàu có.

 

Năm Kiến Nguyên thứ 6 (135 TCN), Đại hành Vương Khôi đánh Đông Việt. Đông Việt giết vương là Dĩnh để hàng [3]. Khôi nhân binh uy sai Phiên Dương lệnh Đường Mông mang chỉ báo cho Nam Việt. Nam Việt đãi Mông món tương cầu kì [4] của Thục, Mông hỏi thứ ấy có từ đâu, thì đáp:

Từ Tang Kha ở tây bắc. Sông Tang Kha rộng mấy lí, chảy xuống thành Phiên Ngung.”

Mông về đến Trường An, hỏi lái buôn Thục, thì lái buôn nói:

Tương cầu kì chỉ có ở Thục, nhiều người lén mang ra bán cho Dạ Lang. Dạ Lang nằm ven sông Tang Kha, sông rộng hơn trăm bộ, đủ để đi thuyền. Nam Việt dùng của cải dịch thuộc Dạ Lang, tây đến Đồng Sư, nhưng cũng không sai khiến được.”

Mông bèn dâng thư nói với Hoàng thượng rằng:

Nam Việt vương đi xe mui vàng cắm cờ bên tả, đất đai đông tây hơn vạn lí, danh là ngoại thần nhưng thực là chúa một châu vậy. Nay từ Trường Sa, Dự Chương sang đấy thì đường thủy nhiều chỗ cạn khó đi. Nghe trộm rằng Dạ Lang sở hữu tinh binh ước chừng hơn mười vạn, nếu đi thuyền theo sông Tang Kha, xuất kỳ bất ý, thì có thể chế ngự nước Việt được ngay. Nếu dùng sức mạnh của Hán, của cải của Ba Thục để thông đường đến Dạ Lang và đặt quan lại, thì rất dễ.”

Hoàng thượng đồng ý, bèn bái Mông làm Trung lang tướng, cầm nghìn quân, hơn vạn người chở lương, từ Tạc Quan ở Ba Thục tiến vào. Khi gặp Dạ Lang hầu Đa Đồng (多同), Mông ban thưởng hậu, dụ bằng uy đức, giao ước đặt quan lại, cho con trai Đa Đồng làm huyện lệnh. Các ấp nhỏ cạnh Dạ Lang đều tham tiền lụa của Hán, cho rằng Hán đi đường hiểm trở, rốt cuộc không thể lấy được đất mình, nên đều giao ước với Mông. Khi về báo, bèn lấy làm quận Kiền Vi. Phát lính Ba Thục mở đường từ đất Bặc đến sông Tang Kha. Người Thục là Tư Mã Tương Như cũng nói đất Di tây nam là Cùng, Tạc có thể đặt quận, nên sai Tương Như làm Trung lang tướng đi dụ, đều như dân Di miền nam, đặt ra một Đô úy và hơn mười huyện, thuộc quận Thục.

 

Thời bấy giờ, bốn quận Ba Thục thông đường đến người Di tây nam, chở lương cho lính thú. Mấy năm sau, đường không thông, lính vì thiếu đói và ẩm thấp nên chết rất nhiều. Người Di tây nam lại làm phản nhiều lần, phát binh đánh rất hao phí mà vô công. Hoàng thượng lo lắng, sai Công Tôn Hoằng đi thăm hỏi. Khi về, trả lời rằng rất bất tiện. Đến khi Hoằng làm Ngự sử đại phụ là lúc đang dựng Sóc Phương để giữ sông Hà, đuổi người Hồ [5]. Hoằng nhân đó nhiều lần nói về mối hại của Tây Nam Di, nên bỏ đi để dồn sức vào việc Hung Nô. Hoàng thượng bãi Tây Di, chỉ đặt một Đô úy ở hai huyện Nam Di, Dạ Lang, lệnh Kiền Vi tự bảo vệ.

 

Đến năm Nguyên Thú thứ 1 (122 TCN), Bác Vọng hầu Trương Khiên đi sứ Đại Hạ về, nói lúc ở Đại Hạ thấy vải Thục, gậy tre Cùng, sứ hỏi có từ đâu thì đáp: “Từ nước Thân Độc phía nam, cách khoảng chừng mấy nghìn lí, có lái buôn Thục bán.” [6] Có kẻ nói từ đất Cùng về tây 2.000 lí có nước Thân Độc. Khiên nhân đó nói thêm rằng Đại Hạ ở phía tây nam Hán, ái mộ Trung Quốc nhưng sợ Hung Nô chặn đường, nếu đi qua Thục và nước Thân Độc thì đường gần rất tiện, có lợi không hại. Vì Thiên tử bèn lệnh bọn Vương Nhiên Ô, Bá Thủy Xương, Lữ Việt Nhân đi sứ từ Tây Nam Di đến nước Thân Độc. Khi đến Điền, Điền vương Thường Khương (嘗羌) bèn giữ lại. Hơn mười đoàn xin đường sang phía tây, suốt hơn một năm đều bị chặn ở Côn Minh, chẳng thể thông đến nước Thân Độc.

 

Điền vương nói với sứ Hán: “Hán với ta ai lớn?” [Việc này] cũng giống như việc của Dạ Lang hầu. Chúng thấy đường không thông, nên đều tự cho mình là chúa một châu, không biết sự lớn lao của Hán. Sứ giả về, nhân đó ra sức nói rằng Điền là nước lớn, đáng cho làm thân cận. Thiên tử chú ý đến Điền.

 

Khi Nam Việt làm phản, Hoàng thượng sai Trì Nghĩa hầu từ Kiền Vi phát binh Nam Di. Thả Lan quân (且蘭) sợ đi xa thì các nước bên cạnh bắt người già yếu của mình, bèn đem quân làm phản, giết sứ giả và Kiền Vi Thái thú. Hán bèn phát tội nhân Ba Thục từng đi đánh Nam Việt, sai tám viên Hiệu úy đánh phá. Gặp lúc nước Việt đã bị phá, tám Hiệu úy của Hán không hạ được nên dẫn binh về, đi tru Đầu Lan (頭蘭). Đầu Lan thường cản đường đến Điền. Khi bình được Đầu Lan, lại bình Nam Di, đặt quận Tang Kha. Dạ Lang hầu ban đầu ỷ vào Nam Việt. Khi Nam Việt đã bị diệt, quân trở về đánh kẻ làm phản, Dạ Lang bèn vào chầu. Hoàng thượng lấy làm Dạ Lang vương.

 

Sau khi Nam Việt bị phá, Hán cũng tru Thả Lan quân và Cùng quân, lại giết Tạc hầu. Nhiễm Mang cũng khiếp sợ, xin làm thần, đặt quan lại. Bèn lấy đất Cùng Đô làm quận Việt Huề, đất Tạc Đô làm quận Thẩm Lê, đất Nhiễm Mang làm quận Mân Sơn, đất Bạch Mã phía tây Quảng Hán làm quận Vũ Đô.

 

Hoàng thượng sai Vương Nhiên Ô đem uy phong phá Việt và tru Nam Di để dụ Điền vương vào chầu. Điền vương có mấy vạn dân chúng, phía đông bắc có Lao Tẩm (勞寖), Mi Mạc, đều cùng họ, nương cậy nhau, nên chưa chịu nghe lệnh. Lao Tẩm, Mi Mạc nhiều lần xâm phạm sứ giả và lại tốt. Năm Nguyên Phong thứ 2 (109 TCN), Thiên tử phát binh Ba Thục đánh diệt Lao Tẩm, Mi Mạc, đem binh áp sát Điền. Điền vương chịu hướng thiện, nên không bị tru. Điền vương rời bỏ Tây Nam Di, đem nước đến hàng, xin đặt quan lại và vào chầu. Vì thế lấy làm quận Ích Châu, ban ấn vương cho Điền vương, lại cho làm trưởng dân mình.

 

Quân trưởng Tây Nam Di có hàng trăm, chỉ có Dạ Lang và Điền được nhận ấn vương. Điền là ấp nhỏ, được sủng hạnh nhất.

 

***

 

Chú thích

1. Thường Át: Làm quan thời nhà Tần, được sai đi sứ chiêu dụ nước Dạ Lang, lấy đất này đặt quận. Đường năm thước là loại đường mòn ở vùng núi phía tây và tây nam Trung Quốc xưa kia, vì rộng năm thước nên có tên này.

2. Bò lông: Tức loài bò yak, phổ biến ở vùng núi Tứ Xuyên, Vân Nam và Tây Tạng ngày nay.

3. Xem thêm Đông Việt liệt truyện

4. Tương cầu kì: Một loại tương làm từ lá trầu.

5. Xem thêm Hung Nô liệt truyện

6. Xem thêm Đại Uyển liệt truyện.

 (Dịch thuật và chú thích: Quốc Bảo)

 

 

 

Comments