QUẾ HẢI NGU HÀNH CHÍ
Tác giả: Phạm Thành Đại
Niên đại: 1175
***
Nước An Nam ngày nay tiếp giáp các quận Cửu Chân, Nhật
Nam thời Hán (tức các châu Hoan, Ái thời Đường). Đông
nam kề biển, tiếp giáp Chiêm Thành (Chiêm Thành tức là Lâm Ấp). Đường biển phía
đông thông đến Khâm, Liêm [1], phía tây là
các dân Man, tây bắc thông đến Ung Châu [2].
Nằm ở góc đông nam Ung Châu, đi đường từ trại Thái Bình [3] ở
sông Tả sang là ngắn nhất. Từ cửa ải đi về hướng chính nam đến Quang Lang, Hoa
Bộ, vượt hai sông Phú Lương, Bạch Đằng, khoảng
4 ngày đường là đến. Còn từ cửa ải đi
về hướng đông nam, qua sông nhỏ Chu Đặc La vào châu Lạng, khoảng 6
ngày đường là đến. Đi đường từ ải Ôn Nhuận ở sông Hữu sang là xa nhất. Từ châu
Khâm vượt biển 1 ngày là đến.
Các
đời trước là quận huyện, thời quốc triều nằm ngoài vòng giáo hóa, họ Đinh, họ
Lê, họ Lý thay nhau chiếm đất này. Thời Hy Ninh, Càn Đức [4] mới lên ngôi, đại
thần nước này nắm quyền, xúi làm phản. Năm thứ 8 (1075) bèn vào cướp, hãm ba châu Ung,
Khâm, Liêm. Triều đình mệnh bọn Quách Quỳ đánh dẹp. Giặc lùa voi đánh trả,
quan quân dùng đại đao chém vòi voi nên voi bỏ chạy, tự giẫm đạp quân của
chúng. Đại binh thừa cơ xông lên thì giặc tan vỡ, thừa thắng chiếm huyện Quang
Lang. Tri huyện là con rể chúa Giao [5],
trốn trong bụi cỏ, dòm thấy quân nhà vua bắt giặc xẻ ra ăn nên cho là thiên thần.
Hắn về báo cho chúa mình rằng: “Muốn giữ
được mạng thì con cháu chớ phạm đến đại triều.” Đại quân đến sông Phú Lương
cách Đô hộ phủ [6] 40 lí, giết ngụy thái tử, bắt được đại
tướng. Càn Đức
khiếp sợ, dâng biểu xin hàng. Gặp lúc lính Bắc phần nhiều bệnh tật, bèn xuống
chiếu xá tội Giao Chỉ, trả lại năm châu. Triều đình thấy Quỳ không lấy
được Giao Châu nên truất làm Vũ Vệ thượng tướng quân. Chiến dịch ấy điều dân
phu hơn 87 vạn, tiền gạo tương đương, rốt cuộc không thành
công. Đại để từ thời Đoan Củng đến Gia Hựu gần đây, châu động hai sông nhiều lần
bị người Man xâm lấn, ngầm đem 62 thôn ở các xứ Ngoại Lang, Tô Mậu, động Giáp
nhập vào Giao Chỉ, nên đến nay bọn Man càng lớn mạnh.
Khi Càn Đức chết, con
trai là Dương Hoán lập [7]. Khi Dương Hoán chết, Càn Đức có đứa con nhỏ gửi ở Chiêm Thành, được rước
về lập lên. Có người nói có tên Lê Mưu là bè đảng của vợ Càn Đức, từng làm con
nuôi họ Lý, giết đứa con nhỏ mà lập, đổi thành họ Lý tên Thiên Tộ [8], đến năm Thiệu Hưng thứ 9 (1139) người trong nước vẫn gọi là Lê vương [9]. Năm thứ 26 (1156), hắn khiển sứ vào cống, triều đình nhân đó lấy quan
tước của họ Lý ban cho. Thiên Tộ dáng vẻ béo trắng, nay đã 39 tuổi. Hắn có anh
trai từng làm Tri Lạng châu, mưu đoạt ngôi, khi việc phát giác thì bị lưu đày đến
châu Tuyết Hà, cắt tóc làm sư. [Thiên Tộ] phàm khi thăm hỏi Quảng Tây Soái ty
và Ung Châu đều dùng hai tấm ván sơn đen kẹp cùng văn thư, khắc chữ trên ván, gọi
là “mộc giáp văn thư”, xưng là An Nam đô hộ phủ. Thiên Tộ không ghi tên mình mà liệt kê nhiều người tướng tá, đều
tiếm danh xưng của quan, gồm có Kim Tử Quang Lộc đại phu, Thủ trung thư Thị
lang, Đồng phán Đô hộ phủ, ý là Đô hộ phủ
[An Nam] cũng biết đề tên như ở châu quận [Trung Quốc]
vậy.
Soái ty [10] và các châu biên giới khi trả lời văn
thư cũng dùng ván gỗ. Theo lệ cũ ở Quế Lâm, có
cất giữ thư từ thời Nguyên Hựu, Hy Ninh, thì giấy tờ của người
Giao cũng giống hiện nay, chữ trên ấn viết “Nam
Việt quốc ấn”. Năm gần đây mới đổi dùng ấn Trung thư môn hạ. Vì là đất
hoang xa nằm ngoài sự cai trị của Trung Quốc, quan lại biên giới lại ngại sinh
sự nên để nguyên thế không hỏi, đâu phải chỉ mới ngày một đâu!
Danh
xưng quan nước này, tông tộc của vương xưng là “thiên vương ban”, phàm
tộc xưng “thừa tự”, còn lại
xưng “chi tự”. Có nội chức và ngoại
chức. Nội chức trị dân, gọi là Phụ quốc Thái úy, giống như tể tướng. Tả hữu
Lang tư không, tả hữu Lang tướng, tả hữu Gián nghị đại phu, Nội thị Viên ngoại
lang, trở lên là nội chức. Ngoại chức cầm binh, gọi là Khu mật sứ, Kim ngô Thái
úy, Đô lĩnh binh, Lĩnh binh sứ, lại có chức Phán và Đồng phán An Nam Đô hộ phủ,
đều là ngoại chức. Kẻ làm quan hoặc qua khoa cử, hoặc là con cái được nhậm chức,
hoặc là nộp tiền; khoa cử là quý nhất. Con cháu thợ thuyền và nô tì không được ứng
cử, nếu nộp tiền cũng chỉ làm chức lại viên, nộp tiền tiếp thì bổ làm Thừa Tín
lang, có thể thăng dần đến Tri châu. Kẻ làm quan không có lương bổng, chỉ được giao
cho dân một miền, bắt phải làm lụng cày ruộng đánh cá để thu lợi.
Binh
lính gồm các quân Tá Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thiền Điện, Quang Vũ, Vương
Giai, Bổng Nhật, Bảo Thắng, đều chia làm tả hữu. Mỗi quân chỉ 200 người, xăm
ngang trên trán chữ “Thiên tử binh”.
Lại có chín quân như Hùng Lược, Dũng Tiệp để sai làm việc, giống như sương
quân. Binh sĩ hằng tháng đổi phiên một lần, lúc rảnh rỗi thì trồng trọt, làm thủ
công để tự cấp. Ngày 7 tháng giêng, mỗi người được cấp 300 tiền, trù,
lụa, vải mỗi thứ một xấp, giống như cuộn trù nhưng phải kéo ra để duỗi. Hằng
tháng cấp cho 10 bó lúa. Lấy ngày mồng 1 tết khao quân, mỗi người được một mâm xôi
nếp, mấy miếng chả cá. Đất này nhiều lúa chiêm, nên coi lúa nếp là quý. Ngày 4
tháng giêng, tù trưởng mổ trâu đãi bầy tôi. Ngày 5 tháng 7 là đại tiết, người
ta tặng quà cho nhau, quan liêu đem đày tớ hiến lên tù trưởng. Hôm sau, tù trưởng
mở yến tiệc đãi lại.
Tù
trưởng ở lầu bốn tầng: trên cùng tự mình ở; tầng thứ hai là nơi ở của “ngự trụ”,
tức là trung nhân; tầng thứ ba là nơi ở của “cá lợi tựu”, tức là thuộc hạ già; tầng thứ tư là nơi ở của
quân sĩ. Lại có các cung Thủy Tinh, điện Thiên Nguyên, đều tự ý bắt chước theo
tên cửa. Có một lầu riêng, treo bảng viết “An
Nam Đô hộ phủ”, các tầng đều sơn son, cột vẽ rồng, hạc, tiên nữ.
Người
Giao bất kể giàu nghèo đều búi tóc, đi chân trần. Tù trưởng ngày thường cũng vậy,
song cài trâm vàng, mặc áo vàng, xiêm tía. Còn lại đều mặc xiêm bốn vạt cổ
tròn, áo thâm không thắt eo, dưới áo quấn xiêm thâm, cài trâm bằng bạc hoặc sắt,
đi giày da, cầm quạt lông cò, đội nón con ốc. Giày da thì dùng da làm đế, đính
một cái que nhỏ, dùng ngón chân cái kẹp vào mà đi. Quạt bện bằng lông cò để đuổi
rắn. Nón ốc đan bằng sợi lạt tre, hình dáng như con ốc ruộng, rất là kỳ công.
Phụ nữ đa phần trắng trẻo, khác hẳn đàn ông, thích mặc áo xanh lục cổ thẳng tay
rộng, đều mang xiêm thâm. Tù trưởng ra vào thì dùng xe do người
kéo. Quý tộc, quan liêu ngồi trên tấm vải, bên trên buộc vào cây tre lớn, hai
người đàn ông khiêng, tên là “để nha”.
Cả
năm không cúng tổ tiên, có bệnh không uống thuốc, ban đêm không thắp đèn. Ngày
Thượng Tỵ [11], nam nữ tụ họp thành hàng lối, kết vải ngũ sắc
thành quả bóng, vừa hát vừa ném, gọi là “phi
đà”. Nam nữ tự chia phe, người
nữ bị trúng bóng thì người nam ắt phải cưới.
Cửa
cung có lầu đặt chuông lớn, dân tố việc thì đánh chuông. Tử hình thì giao cho
nhà có thù làm, để họ bằng lòng. Trộm cướp bị chặt ngón tay hoặc ngón chân, bỏ
trốn thì chặt chân tay. Kẻ mưu phản thì chôn thân dưới đất, để lộ đầu, bên cạnh
cắm cây sào dài, kéo sào buộc vào búi tóc, bắt duỗi cổ ra, dùng xẻng nhọn cứa một
đường là đầu kẻ ấy liền bị kéo lên đỉnh ngọn sào. Chết ở ngoài nước thì đánh
xác chửi mắng, cho là bỏ quốc thổ.
Sản
sinh vàng, bạc, đồng, chu sa, đồi mồi, tê, voi, lông bói cá, xà cừ, hương liệu,
cùng với các thứ muối, sơn, bông. Trái cây chỉ có cam quýt, hương viên, cau, trầu
không. Huyện mới và cũ cách nhau một con sông nhỏ, đều sản xuất hương liệu. Tân
Châu trước là đất Chân Lạp, xâm chiếm được. Không
biết làm giấy bút, phải mua ở đất tỉnh [12].
Người
nước này ít thạo viết chữ. Người Mân theo thuyền đi biển đến đây ắt được đãi ngộ
hậu rồi cho làm quan, lo quyết công việc. Phàm gửi thư từ quỷ loạn [cho Tống]
đa phần từ bọn du khách mà ra. Tương truyền ông tổ Công Uẩn cũng vốn là người
Mân [13]. Thổ nhân nước này lại cực ít, một nửa là dân
tỉnh. Lữ khách ở miền nam dụ người ta làm đày tớ hay phu gánh, đến châu động liền
trói lại đem bán, một người thu được hai
lạng vàng; châu động chở vào Giao Chỉ bán, thu ba lạng
vàng, mỗi năm có không dưới hàng trăm, hàng nghìn người. Kẻ có tài nghệ thì
vàng gấp bội, kẻ biết văn thư càng gấp bội nữa. Trói tay lùa đi, quặt ra sau
gáy, để không biết đường về. Ai đã sang nước này đều chấp nhận chủ mua, làm nô
cả đời, đều xăm trên trán bốn năm chữ, phụ nữ thì xăm từ vú đến sườn. Trông coi
nghiêm ngặt, bỏ trốn ắt bị giết. Lại có những kẻ tú tài, nhà sư, đạo sĩ, thợ kĩ
thuật và bọn lưu đày, bỏ chạy, trốn tránh rất nhiều. Không biết đúc đồng làm tiền,
toàn dùng tiền đồng nhỏ của Trung Quốc, đều từ khách buôn mà ra. Xét thấy: bắt
tì nô đem bán, cùng thổ nhân qua lại biên giới, và tuồn lậu tiền của ra khỏi
cõi, ba việc ấy pháp luật đều cấm cả. Nay khinh nhờn như thế, vì quan An phủ,
Đô giám và các khe động ven biên giới không có người, chính sự ở biên giới suy
đồi, để cho kẻ gian làm càn, ngày rộng tháng dài chưa dứt. Hơn nữa quan lại
biên giới không có tài vật để dựa dẫm, bổng lộc ít ỏi vì đất chướng lệ, nên vật
vờ chờ chết mà thôi, nào đoái hoài đến việc biên phòng quốc sự, nên đầu đau
lòng xé vậy. Nhưng người Giao từ thời Hy Ninh bị thua rồi hàng, về sau cũng
không dám ngang ngạnh nữa, biên thùy phía nam cũng yên ổn gần trăm năm.
Năm
Thiệu Hưng thứ 12 (1142), tên yêu nhân Đàm Hữu Lượng chạy vào châu Tư Lãng, trá
xưng là phụng sứ, dụ các châu động dưới, Thiên Tộ rất sợ. Ít lâu sau, Soái ty gửi
hịch đòi An Nam bắt Hữu Lượng. Ung Châu lại thấy ngụy quan xin nương thân nên gọi
đến. Hữu Lượng cùng bọn thủ lĩnh châu Quy Thuận hơn 20 người đều dâng ấn đồng,
địa đồ, thổ sản đến Hoành Sơn [14]. Tri Ung
châu Triệu Nguyện trói Hữu Lượng giải đến Soái ty chém đi, bọn thủ lĩnh trả hết
về An Nam, đều chết cả. Giao Chỉ ở yên đến nay, không có tai tiếng gì.
Mùa
xuân năm Càn Đạo thứ 8 (1172), [Giao Chỉ] tâu xin vào chầu chúc mừng thánh chúa lên
ngôi. Xuống chiếu cho Quảng Tây Kinh lược ty rằng cống sứ đến thì miễn phải vào
đình, phương vật chỉ nhận một phần mười. Mùa thu ấy, lại có chiếu xuống bảo
Kinh lược ty mua mười con voi thuần để chuẩn bị làm lỗ bộ [] trong
lễ tế Giao. Kinh lược Lý Đức Viễn dùng mộc giáp thư gửi cho Giao Chỉ hỏi mua.
Người Man trả lời là không chịu bán, xin đem cống. Mùa xuân năm sau, ta đến nhậm
chức, nhiều lần dẫn chiếu trước khước từ cống vật. Hạn tế tự đã gần, triều đình
giục đưa voi gấp như lửa cháy. Người Man lại đề chữ ở cửa ải: “Sáu con voi và phương vật đem đến cửa ải, nếu
không cho cống thì dẫn hết về. Tiểu phiên nào dám mua bán với triều đình.” Ta
đem sự trạng báo lên, đồng thời gửi thư cho tể tướng nói rằng muốn từ chối cống
vật và voi, chớ đợi lâu, tế tự cốt ở thuần túy trong sạch, cần gì thứ ấy. Chẳng
lâu sau có thẻ bài chữ vàng ban xuống, sai quan áp giải [voi] đến cửa khuyết, mới
tới Quế Lâm thì mùa thu đã qua. [Giao Chỉ] đem 10 con voi chúc mừng lên ngôi, 5
con voi tiến dâng đại lễ, chữ trên biểu nhỏ như đầu ruồi không đọc được. Lễ vật
đeo cho voi ấy gồm có bành voi “la ngã” vàng (“la ngã” giống như hình cái yên), trang sức vàng đeo ngà voi, biển
vàng đeo trán voi, câu liêm dắt voi bằng vàng bạc, đai buộc bụng, biển
bạc thếp vàng đeo trán voi, cây mía vàng bạc trang trí dây đỏ, lục lạc đồng thếp vàng đeo chân voi, chuông
đồng nối dây sắt đeo thân voi, chiếu ngồi trên
voi, hoa mao ngưu đeo cho voi, thang đỏ để leo voi, “la ngã” cùng đai bụng hình đầu rồng. Những vật còn lại
gồm cồng chiêng vàng bạc và trầm hương. Đại sứ xưng Trung Vệ đại phu Doãn Tử Tư,
chính sứ Thừa Nghị lang Lý Bang Chính, phó sứ Trung Dực lang Nguyễn Văn Hiến. Bên dưới có các quan
Chức viên, Thư trạng cung, Đô nha, Thông dẫn, Tri khách, Giám cương khổng mục, Hành
thủ, Áp nha, Giáo luyện, Tượng công, Trường hành, Phòng thụ. Bọn ấy vào triều thì
đổi phục khí chút ít. Sứ giả vấn khăn, đi hia, cầm hốt, đi giày đỏ, đeo thắt
lưng vàng hay thắt lưng da tê, thường đem hòm vàng ra khi khoe khoang, lại lấy
dầu thơm thoa tóc, mũ giống mũ ô sa xếp nếp phết sơn, chân mang giày tất. Sứ giả
ngồi kiệu thoáng, hai càng đóng đinh quét sơn rất cẩn thận. Nhưng khi đến Trung
Quốc đổi hết sang búi tóc, đi chân đất, ngồi “để nha”.
Trước
kia, vào năm Thiệu Hưng thứ 26 (1156) [Giao Chỉ] từng
vào cống. Tham tri chính sự Thi Đại Nhiệm làm soái ở Quế [Châu], [sứ giả] noi
theo lệ cũ lấy thẻ tên để báo yết, lại dùng cơm rượu mang theo mở tiệc ở quán. Ta
bãi hết lệ ấy, thì sứ giả nói riêng với quan Nha hiệu rằng:
“Thi tham chính quan tâm hậu đãi, nay sao
lại bãi hết đi?” Ta sai người dụ rằng:
“Kinh lược sứ ty và An Nam Đô hộ phủ bằng hàng, Kinh lược sứ và Nam Bình vương [15] ngang vai. Sứ giả là tiểu quan của Đô hộ phủ,
chỉ ngang với quan tào duyện ở Quế Lâm, theo phép phải vào đình tham kiến,
không thể không gặp.” Sứ giả khuất phục,
bèn vào đình tham kiến. Khi về muốn bái lạy, ta sai người bên cạnh nói rằng: “Miễn bái”. Ta tâu việc ấy lên, lại chép
vào thư tịch để định chế độ; lại biện bác rằng
An Nam giờ không như Giao Chỉ xưa nữa.
***
Chú thích
1. Khâm, Liêm: Nay là Khâm Châu và Hợp Phố, Quảng Tây, Trung Quốc
2. Ung Châu: Nay là
Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc.
3. Thái Bình: Nay
thuộc Sùng Tả, Quảng Tây.
4. Càn Đức: Tức là
Lý Nhân Tông.
5. Đây có lẽ là Thân
Thừa Quý, thổ hào vùng Lạng Sơn, được nhà Lý gả công chúa cho.
6. Đô hộ phủ: Tức là
kinh thành Thăng Long thời bấy giờ.
7. Dương Hoán: Tức
Lý Thần Tông.
8. Thiên Tộ: Tức Lý
Anh Tông.
9. Những thông tin ở
đoạn này đều không có căn cứ trong sử Việt. Có khả năng đây là tin đồn do Thân
Lợi, thủ lĩnh cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên năm 1139 thêu dệt nên nhằm phủ nhận
tính chính danh của vua Lý Anh Tông.
10. Soái ty: Tức Kinh
lược an phủ sứ ty, cơ quan hành chính cấp lộ thời Tống.
11. Thượng Tỵ: Tức
ngày 3 tháng 3 âm lịch, một ngày lễ ở Đông Á xưa.
12. Đất tỉnh: Chỉ
vùng nội địa Trung Quốc.
13. Mân: Tức vùng
Phúc Kiến ngày nay. Sách An Nam chí lược bác bỏ thuyết này, viết rằng Lý Công Uẩn
là người bản địa nước ta.
14. Hoành Sơn: Nay thuộc Uất Lâm, Quảng Tây.
15. Nam Bình vương:
Tước hiệu do nhà Tống ban cho các vua nước ta.
(Dịch thuật và chú thích:
Quốc Bảo)

Comments
Post a Comment