ĐÔNG VIỆT LIỆT TRUYỆN
Sử ký – quyển 114
***
Mân Việt vương Vô Chư (無諸)
và Việt Đông Hải vương
Diêu (搖) đều có tổ tiên là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn, họ là Sô (騶). Khi Tần thôn tính thiên hạ, đều bị phế làm quân trưởng, lấy
đất của họ làm quận Mân Trung. Khi chư hầu phản Tần, Vô Chư và Diêu đem đất Việt
theo về Bà Dương lệnh Ngô Nhuế, được gọi là Bà Dương quân, cùng chư hầu diệt Tần.
Ở thời bấy giờ, Hạng Vũ làm chủ mệnh lệnh, phế ngôi vương, vì thế họ không theo
Sở. Khi Hán đánh Hạng Vũ, Vô Chư và Diêu đem quân giúp Hán. Năm thứ 5 triều Hán
(198 TCN), phục vị cho Vô Chư làm Mân Việt vương, làm vương ở đất quận Mân
Trung cũ, đóng đô ở Đông Dã (東冶)
[1]. Năm Hiếu Huệ thứ 3
(193 TCN), xét công của nước Việt thời Cao đế, nên phục vị cho Diêu làm Đông Hải
vương, đóng đô ở Đông Âu, người đời quen gọi là Đông Âu vương.
Mấy đời sau, đến năm Hiếu Cảnh thứ 3 (155 TCN) Ngô vương Tỵ [2] làm phản, muốn dụ Mân Việt. Mân Việt
chưa chịu theo, chỉ có Đông Âu theo Ngô. Khi Ngô bị phá, Đông Âu nhận tiền thưởng
của Hán nên giết Ngô vương Đan Đồ, vì thế đều không bị tru, được về nước.
Con trai Ngô vương là Tử Câu chạy trốn đến Mân Việt, oán Đông
Âu giết cha mình nên thường khuyên Mân Việt đánh Đông Âu. Đến năm Kiến Nguyên
thứ 3 (138 TCN), Mân Việt phát binh vây Đông Âu. Đông Âu cạn lương thực, nguy
khốn sắp phải hàng, bèn sai người cáo cấp cho Thiên tử. Thiên tử hỏi Thái úy Điền
Phẫn, thì Phẫn đáp rằng: “Người Việt công kích nhau là chuyện thường, lại
nhiều lần phản phúc, không đáng để phiền Trung Quốc đến cứu. Từ thời Tần đã vứt
bỏ rồi.” Vì thế Trung đại phu Trang
Trợ hỏi vặn Phẫn rằng: “Gặp hoạn nạn mà sức chẳng cứu được, thì đức chẳng
suy suyển. Nếu thực đủ sức, sao lại vứt bỏ? Hơn nữa Tần dựng Hàm Dương rồi cũng
vứt bỏ, đâu chỉ riêng Việt. Nay tiểu quốc vì khốn cùng đến cáo cấp cho Thiên tử,
Thiên tử chẳng giúp thì làm sao giữ yên chuyện cáo tố?” Hoàng thượng nói: “Thái
úy chưa biết hiến kế. Ta mới lên ngôi, không muốn xuất hổ phù, phát binh quận
quốc.” Bèn khiển Trang đem cờ tiết phát binh Cối Kê. Cối Kê Thái thú muốn chống
lệnh, không chịu phát binh. Trợ bèn chém một viên Tư mã, dụ ý chỉ, rồi phát
binh vượt biển cứu Đông Âu. Chưa đến nơi thì Mân Việt đã dẫn binh về. Đông Âu
xin dời nước vào Trung Quốc, bèn đem hết dân chúng đến vùng Giang Hoài [3].
Đến năm Kiến Nguyên thứ 6 (135 TCN), Mân Việt đánh Nam Việt.
Nam Việt giữ giao ước với Thiên tử, không dám tự ý phát binh đánh nên báo lên.
Hoàng thượng khiển Đại hành Vương Khôi xuất phát từ Dự Chương, Đại nông Hàn An
Quốc xuất phát từ Cối Kê, đều làm tướng quân. Binh chưa qua Ngũ Lĩnh thì Mân Việt
vương Dĩnh đã phát binh giữ nơi hiểm yếu. Em trai hắn là Dư Thiện (馀善) bèn cùng tông tộc
mưu rằng: “Vương tự ý phát binh đánh Nam Việt, không nghe lệnh, nên binh của
Thiên tử đến tru. Nay Hán binh đông mạnh, giờ có may mắn thắng được thì về sau
càng tăng thêm, đến khi diệt quốc mới thôi. Nay giết vương để tạ tội với Thiên
tử, nếu Thiên tử đồng ý bãi binh thì giữ được toàn vẹn cả nước; nếu không đồng
ý sẽ dốc sức đánh, không thắng thì chạy ra biển.” Họ đều nói: “Hay”,
rồi đâm chết vương, sai sứ dâng đầu lên Đại hành. Đại hành nói: “Ta đến đây
để tru vương, nay họ đã đem đầu vương đến tạ tội, không đánh mà dẹp được, không
gì lợi bằng.” Bèn kiếm chỗ tiện nghi án binh, báo cho quân của Đại nông, rồi
sai sứ mang đầu vương phi ngựa về báo Thiên tử. Xuống chiếu bãi binh của hai tướng,
nói rằng: “Bọn Dĩnh cầm đầu việc ác, chỉ có cháu là Dưu quân Xú (繇君醜) không dự mu.” Bèn sai Lang
trung tướng lập Xú làm Việt Dưu vương, lo tế tự tổ tiên Mân Việt.
Dư Thiện đã giết Dĩnh, ra uy trong nước,
quốc dân theo nhiều, nên lén tự lập làm vương, Dưu vương không uốn nắn dân chúng
theo chính giáo được. Thiên tử nghe tin, thấy không đáng để hưng quân đánh Dư
Thiện, nên nói rằng: “Dư Thiện nhiều lần cùng Dĩnh mưu loạn, nhưng về sau cầm
đầu việc tru Dĩnh, không có thế dấy quân.” Nhân đó lập Dư Thiện làm Đông Việt
vương, cùng Dưu vương cai trị.
Đến năm Nguyên Đỉnh thứ 5 (112 TCN),
Nam Việt làm phản. Đông Việt vương Dư Thiện dâng thư xin đem 3.000 lính theo
Lâu Thuyền tướng quân đánh bọn Lữ Gia. Binh đến Yết Dương [4], bị sóng gió đánh
vỡ thuyền, không đi được. [Dư Thiện] nuôi hai lòng, ngầm sai sứ sang Nam Việt.
Khi Hán phá Phiên Ngung, [Đông Việt] không đến. Bấy giờ Lâu Thuyền tướng quân
Dương Bộc sai sứ dâng thư, nguyện dẫn binh đánh Đông Việt. Hoàng thượng nói sĩ
tốt đã mỏi mệt nên không đồng ý, bãi binh, lệnh các hiệu quân đóng ở Mai Lĩnh [5]
tại Dự Chương [6] đợi mệnh.
Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN), Dư Thiện nghe tin Lâu Thuyền xin tru mình, Hán binh sắp áp sát cõi, bèn làm phản, phát binh chặn đường Hán. Đặt hiệu cho bọn tướng quân Sô Lực (騶力) là “Thôn Hán tướng quân” [7], vào Bạch Sa, Vũ Lâm, Mai Lĩnh, giết ba viên Hiệu úy của Hán. Bấy giờ Hán sai Đại nông Trương Thành và cố Sơn Châu hầu Xỉ đóng đồn. Bọn họ không dám đánh, lui về đóng ở nơi thuận tiện, nên bị xử tử vì tội nhút nhát.
.png)
Vị trí Đông Việt, Mân Việt và các mũi tấn công của quân Hán.
Dư Thiện khắc tỷ “Vũ đế” để tự lập, lừa
dối người dân bằng lời càn rỡ. Thiên tử khiển Hoành Hải tướng quân Hàn Thuyết từ
Câu Chương [8] vượt biển đi về đông; Lâu Thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát
từ Vũ Lâm; Trung úy Vương Ôn Thư xuất phát từ Mai Lĩnh; Việt hầu làm Qua Thuyền,
Hạ Lại tướng quân, xuất phát từ Nhược Tà, Bạch Sa. Mùa đông năm Nguyên Phong thứ
1 (110 TCN), cùng vào Đông Việt. Đông Việt đã phát binh giữ nơi hiểm trở, sai
Tuẫn Bắc tướng quân thủ Vũ Lâm, đánh bại nhiều Hiệu úy trong quân của Lâu Thuyền,
giết trưởng lại. Lính của Lâu Thuyền tướng quân là Viên Chung Cổ người Tiền Đường
chém được Tuẫn Bắc tướng quân, được làm Ngự Nhi hầu.
Cố Việt Diễn hầu Ngô Dương trước theo
Hán, Hán sai về dụ Dư Thiện, nhưng Dư Thiện không nghe. Khi Hoành Hải tướng
quân đến trước, Việt Diễn hầu Ngô Dương đem 700 người ấp mình phản lại [Dư Thiện],
tấn công quân Việt ở Hán Dương, đi theo Kiến Thành hầu Ngao. Khi dự việc điều
binh, cùng Dưu vương Cư Cổ (居股) mưu rằng: “Dư
Thiện cầm đầu việc ác, cướp lấy đất của ta. Nay Hán binh đến, quân mạnh, nếu
tính kế giết Dư Thiện, tự theo về các tướng [Hán] thì may ra thoát được.”
Bèn cùng giết Dư Thiện, đem dân chúng đầu hàng Hoành Hải tướng quân. Thế nên
phong Dưu vương Cư Cổ làm Đông Thành hầu, [ăn lộc] vạn hộ; phong Kiến Thành hầu
Ngao làm Khai Lăng hầu; phong Hoành Hải tướng quân Thuyết làm Án Đạo hầu; phong
Hoành Hải hiệu úy Phúc làm Liễu Oanh hầu. Phúc là con trai của Thành Dương Cộng
vương, vốn làm Hải Thường hầu, vì phạm pháp mà mất tước, trước theo quân không
có công, nhưng vì là người tông thất nên được phong hầu. Các tướng đều không
thành công, nên không được phong. Tướng Đông Việt nhiều quân, khi Hán binh đến bỏ
quân ấy mà hàng, được phong làm Vô Tích hầu.
Thiên tử nói: “Đông Việt hiểm trở,
Mân Việt hung hãn, nhiều lần phản phúc”, nên xuống chiếu cho các quân lại [9]
đem dân nước ấy dời đến vùng Giang Hoài. Đất Đông Việt bị bỏ trống.
***
Chú
thích
1.
Đông Dã: Nay thuộc Phúc Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc.
2.
Ngô vương Tỵ: Tức Lưu Tỵ, tông thất nhà Hán, được phong ở đất Ngô. Về sau cầm đầu
Loạn bảy nước chống lại triều đình Hán nhưng thất bại.
3.
Giang Hoài: Tức vùng đất nằm giữa sông Hoài và sông Trường Giang, nay thuộc
Giang Tô và An Huy.
4.
Yết Dương: Nay thuộc Quảng Đông.
5.
Mai Lĩnh: Tức dãy núi Đại Dữu, một trong Ngũ Lĩnh ở miền nam Trung Quốc.
6.
Dự Chương: Tên quận thời Hán, nay thuộc tỉnh Giang Tây.
7.
Thôn Hán tướng quân: Nghĩa là “tướng quân nuốt Hán”.
8.
Câu Chương: Nay thuộc Ninh Ba, Chiết Giang.
9.
Quân lại: Chỉ chung tướng soái, quan lại trong quân đội.
(Dịch thuật và chú
thích: Quốc Bảo)
Comments
Post a Comment