AN NAM TRUYỆN
(Tân Nguyên sử, quyển 251)
Niên đại: 1920
Tác giả: Hà Thiệu Mân
Tân
Nguyên sử là bản biên tập lại của Nguyên sử, được soạn dưới thời Trung Hoa dân
quốc nhằm chỉnh sửa và bổ sung thông tin cho tác phẩm trước. Tuy nhiên, bản thân
nó cũng mắc không ít sai sót riêng. Vì vậy khi đọc nên có sự so sánh và đối chiếu
giữa hai tác phẩm để chắt lọc ra thông tin chính xác.
***
An
Nam xưa gọi là Giao Chỉ [1], vốn là đất quận Nhật Nam thời Hán [2]. Năm Điều Lộ
thứ 1 triều Đường Cao Tông (679), đổi thành An Nam Đô hộ phủ, lệ vào đạo Lĩnh
Nam. Cái tên An Nam bắt đầu có từ đấy. Về sau vào thời Trinh Minh triều Lương
(915-921) mới bị thổ hào Khúc Thừa Mĩ chiếm cứ. Lưu Ẩn nước Nam Hán đánh Thừa
Mĩ, bắt được, thôn tính đất này, rồi bị tướng châu Ái là Dương Diên Nghệ chiếm lại.
Tướng trong châu là Ngô Xương Ngập lại đoạt được, truyền cho em trai Xương Văn.
Năm Khai Bảo thứ 7 triều Tống (974), khiển sứ triều cống, mới phong làm Giao Chỉ
quận vương, từ đấy bỏ ở ngoài cõi. Về sau bị tướng là Lê Hoàn soán ngôi, hậu duệ
Hoàn lại bị Đại hiệu Lý Công Uẩn soán. Hậu duệ Công Uẩn là Hạo Sảm không có con
trai, lấy con gái Chiêu Thịnh [3] làm chủ việc nước. Năm Thiệu Định thứ 3 triều
Lý Tông (1230), Chiêu Thịnh nhường ngôi cho chồng là Trần Nhật Cảnh, nên họ Trần
có được nước này. Năm Cảnh Định thứ 3 triều Tống (1262), phong Nhật Cảnh làm Thái
vương, lấy con trai hắn Quang Cảo [4] làm Quốc vương.
Năm
thứ 7 triều Hiến Tông (1258), đại tướng Ngột Lương Hợp Thai bình xong Đại Lý,
đem binh sang Giao Chỉ. Ba lần khiển sứ dụ hàng đều không thấy về, vì thế chia
đường tiến công. Quân đến sông Thao thì Nhật Cảnh khiển binh cưỡi voi chặn đánh.
Con trai Ngột Lương Hợp Thai là A Truật, 18 tuổi, đem lính thiện xạ bắn voi. Voi
kinh hãi chạy về giẫm đạp, quân của chúng tan vỡ. Hôm sau, Nhật Cảnh chặt cầu
Phù Lỗ, bày trận bên kia sông. Đại quân chưa đo được nước nông sâu nên đi dọc
sông bắn tên xuống, tên rơi xuống nước mà không nổi thì biết là chỗ nông, liền
đem kỵ binh vượt. Nhật Cảnh thua chạy. Chém người tông tộc là Phú Lương hầu. Đến
đô thành, tìm được ba sứ giả đã khiển đi trước kia ở trong ngục, gông tre hằn đến
tận thịt. Khi cởi trói thì một sứ chết, nên giết sạch cả thành. Ở lại bảy ngày,
thấy nóng nực nên rút quân, khiển hai sứ chiêu dụ Nhật Cảnh đến quy phụ. Nhật Cảnh
từ biển trở về, thấy quốc đô bị tàn hủy thì phẫn nộ, bèn trói ba sứ giả đuổi về.
Gặp
lúc Nhật Cảnh truyền nước cho con trai Quang Cảo, đổi niên hiệu là Thiệu Long,
khiển con rể đem phương vật đến cống. Ngột Lương Hợp Thai đưa đến nơi hành tại [5],
khiển riêng Nạp Lạt Đinh [6] sang dụ rằng: “Trước kia ta khiển sứ thông hiếu,
bọn ngươi bắt mà không trả cho ta, nên mới có việc dấy binh năm trước. Thấy
chúa ngươi trốn tránh ngoài đồng cỏ nên lệnh hai sứ chiêu an về nước, thì lại
trói sứ ta đuổi về. Nay đặc cách khai dụ thêm lần nữa, nếu như quả quyết tâm nội
phụ thì quốc chủ phải đích thân đến. Nếu vẫn không hối cải, thì báo rõ cho ta.”
Quang Cảo nhận thư, vội nạp khoản [7], lại nói rằng: “Đợi giáng đức âm [8],
sẽ lập tức khiển con em làm tin.”
Đầu
thời Trung Thống triều Thế Tổ, lấy Lễ bộ Lang trung Mạnh Giáp, Viên ngoại lang
Lý Văn Tuấn sung làm chính, phó sứ, mang chiếu sang dụ rằng:
“Tổ tông dùng võ công dựng nghiệp, văn hóa
chưa sửa. Trẫm tiếp nối nghiệp lớn, đổi mới bỏ cũ, coi muôn phương như một. Vừa
hay nghe tin nước khanh có lòng thành hướng phong mộ nghĩa, nhớ khanh vào thời
tiền triều đã từng thần phục, cống nạp phương vật, nên ban chiếu chỉ, dụ quan
liêu, sĩ điệp nước khanh rằng phàm y phục, điển lễ, phong tục đều dựa theo chế
độ cũ của bản quốc. Đã răn tướng biên giới không được tự ý hưng binh giáp, xâm lấn
bờ cõi, làm loạn người dân khanh. Hai bên đều nên trị yên như cũ.”
Quang Cảo liền khiển bọn Thông Thị đại
phu Trần Phụng Công đến cửa khuyết dâng thư, nguyện thần phục. Hoàng đế phong
Quang Cảo làm An Nam quốc vương, ban 3 tấm gấm tây, 6 tấm gấm vàng ươm, đồng thời
trao hổ phù. Lại giáng chiếu rằng:
“Khanh đã ủy bề tôi làm tin, thì từ năm
Trung Thống thứ tư trở đi cứ ba năm cống một lần, có thể tuyển nhà nho, thầy
thuốc, kẻ thông âm dương bói toán và thợ thuyền mỗi loại ba người, đem cùng các
thứ dầu tô hợp, quang hương, vàng bạc, chu sa, trầm hương, đàn hương, sừng tê,
đồi mồi, ngà voi, vải bông, chén sứ trắng đến dâng.”
Lại lấy Nạp Lạt Đinh sung làm Đạt lỗ
hoa xích [9], qua lại nước này. Quang Cảo khiển bọn Viên ngoại lang Dương An Dưỡng
vào tạ ơn. Hoàng đế ban cho đai ngọc, lụa là, thuốc men, yên cương có khác
nhau.
Năm
Chí Nguyên thứ 2 (1265), ban Quang Cảo lịch và chiếu đổi niên hiệu. Quang Cảo lại
khiển sứ Dương An Dưỡng dâng tấu biểu nói điều: một là định phương vật cống nạp;
hai là miễn tìm nhà nho, thầy thuốc, thợ thuyền; ba là nguyện xin Nạp Lạt Đinh
làm Đạt lỗ hoa xích nước mình lâu dài. Hoàng đế đồng ý.
Năm
thứ 4 (1267), lại xuống chiếu dụ sáu việc rằng: “Phàm các nước mới quy phụ,
quân trưởng đích thân vào chầu, con trai đi trước làm tin, biên dân số, xuất
quân dịch, thu nạp phú thuế, lại đặt Đạt lỗ hoa xích thống trị. Lấy mấy việc ấy
để tỏ rõ quy phụ, thì lòng thành sâu nặng vậy. Khanh được lệnh ba năm đến cống,
lòng thành có thể thấy rõ; nên ta dựa theo phép của tổ tông mình, cũng dụ bằng
lòng thành vậy. Hơn nữa quân trưởng đến chầu, con cháu vào làm tin, tính dân, định
phú, xuất quân tương trợ, từ xưa cũng đã có, há phải mới sáng chế ngày nay đâu?
Sẽ cử xuất quân một lần, không phải lo đánh dẹp xa xôi. Song người sai đến là
Dương An Dưỡng xưng rằng có mối nạn Chiêm Lạp [10], Sơn Lão [11].
Nếu như hai bọn giặc ấy hàng phục, thì còn có việc gì nữa? Đạo của nhà binh, ai
dám cho là dễ. Ví như không chịu theo mệnh, ắt đáng thảo phạt. Huống hồ bản tâu
của khanh, từng có lời ‘như người một nhà’. Nay nghe Nạp Lạt Đinh nói ở bên đấy
có nhiều kẻ Hồi Cốt [12] bị cầm giữ, không cho giao tiếp. Nếu quả như lời
đấy, thì lễ của người một nhà há lại như thế sao? Nghĩa của vua tôi thực giống
cha con, há nào tôi con mà quay lưng với vua cha? Đắn đo cho kĩ, để giữ trọn
nghĩa chung thủy.”
Năm
thứ 5, Hốt Lung Hải Nha thay Nạp Lạt Đinh làm Đạt lỗ hoa xích, Trương Đình Trân
làm phó. Quang Cảo đứng nhận chiếu, Đình Trân lấy đại nghĩa trách, bắt cúi lạy,
thì nói rằng:
“Ông là quan triều đình, ta là vương, sao
phải làm lễ ngang hàng?”
Đình Trân nói:
“Vương nhân tuy hèn kém, nhưng thứ bậc vẫn ở
trên chư hầu. Huống hồ Thiên tử mệnh ta làm trưởng của An Nam, mà ông đứng trên
ta ư?”
Quang Cảo nghẹn lời. Trung thư tỉnh lại
gửi điệp cho Quang Cảo, nói rằng nhận chiếu mà không bái, đối đãi với sứ không
dùng lễ dành cho người của vua, dẫn nghĩa Kinh Xuân Thu trách cứ. Quang
Cảo lại gửi thư nói:
“Bản quốc khâm phụng Thiên triều, đã phong tước
vương, há không phải là vương nhân sao? Phụng sứ Thiên triều lại xưng: ‘Vương
nhân và ông đều ngang lễ, thì e nhục triều đình.’ Hơn nữa bản quốc trước kia vâng
chiếu chỉ, đều dựa theo tục cũ, phàm nhận chiếu lệnh thì phụng an ở chính điện
rồi thoái lui về biệt thất, đấy là điển lễ cũ của bản quốc vậy.”
Trung thư tỉnh lại gửi thư trách cứ rằng:
“Khảo Kinh Xuân Thu, xếp vương nhân ở trên
chư hầu. Sách ‘Thích lệ’ viết rằng: Vương nhân nghĩa là hạ sĩ. Quý quân ngũ đẳng
là hàng quý trong ngoại thần. Hạ sĩ là hàng kém trong nội thần. Lấy kẻ kém đặt
trên kẻ quý, chính là để vương mệnh được trọng. [13] Đời sau liệt vương
làm tước, rất quý với chư hâu, nhưng đâu phải có tước vương là hơn người ta
đâu? Vương lẽ nào không biết mà nói thế? Hay là nghe lời nhầm lẫn của bề tôi mà
nói thế? Còn như chiếu của Thiên tử, người làm tôi phải bái nhận, đấy là việc
thông nghĩa xưa nay. Lại nói rằng tuân theo tục cũ, phụng an ở chính điện rồi
thoái lui về biệt thất, vương há tự yên trong lòng được sao? Lời của chiếu trước
nói rằng trong trời đất có đến vạn nước, mỗi nước đều có tục, nếu sứ luôn thay
đổi thì có chỗ không tiện, nên đồng ý cho dùng tục riêng. Há nào coi không bái
chiếu của Thiên tử là làm theo tục sao? Hơn nữa giáo lệnh của vương thi hành
trong nước, thần tử có kẻ nhận mà không lạy, thì vương coi là thế nào?”.
Năm ấy, Quang Cảo khiển Phạm Nhai, Chu
Lãm vào cống.
Năm
thứ 7, lấy Diệp Thức Niết làm Đạt lỗ hoa xích ở An Nam. Quang Cảo khiển Lê Đà,
Đinh Củng Viên vào cống, dâng biểu nói rằng: “Vy thần [14] lánh nơi
góc biển, được hưởng thánh hóa cùng chúng sinh, hân hoan cổ vũ. Từ khi hàng phụ
thượng quốc, tuy vâng ba năm một lần cống, nhưng sứ thần đi lại mệt mỏi vì gấp
rút, chưa từng một ngày nghỉ ngơi. Còn như Đạt lỗ hoa xích do Thiên triều khiển
đến, hạ mình tới cõi thần, có việc gì cũng nương cậy vào để chèn ép tiểu quốc. Tuy
Thiên tử soi sáng cùng nhật nguyệt, làm sao chiếu được đáy chậu úp? Hơn nữa Đạt
lỗ hoa xích có thể đặt ở nơi Man Di nhỏ nhoi, còn thần đã được phong làm phên dậu
một phương, mà lại lập Đạt lỗ hoa xích để soi xét, há không bị nước khác cười
chê? Lại mong thánh từ thương xót, phàm quan Thiên triều khiển đến, xin đổi làm
Dẫn tiến sứ, miễn việc quấy nhiễu của Đạt lỗ hoa xích.”
Năm
thứ 8 (1271), khiển Phùng Trang, Nguyễn Nguyên vào cống. Năm thứ 9 (1272), lại
khiển Đồng Tử Dã, Đỗ Bản vào cống. Năm thứ 11 (1274), khiển Lê Khắc Phục, Lê
Văn Túy vào cống. Gặp lúc đại binh bình Tống, bọn Khắc Phục theo đường Hồ Quảng
về nước [15].
Năm
thứ 12 (1275), Hoàng đế lại giáng chiếu rằng:
“Tổ tông định chế, phàm các nước nội phụ
thì quân trưởng vào triều, con em làm tin, ghi hộ khẩu, thu phú năm, điều dân
trợ binh, vẫn đặt Đạt lỗ hoa xích thống trị. Sáu việc ấy, năm trước đã dụ khanh
rồi. Quy phụ hơn 15 năm, chưa từng tự mình đến chầu, mấy việc ấy vẫn chưa cử
hành. Tuy cứ ba năm một lần cống, nhưng đồ cống đều vô bổ không dùng được. Cho
rằng khanh đáng ra tự hiểu từ lâu, nên bỏ qua mà không hỏi, nào ngờ đến nay vẫn
chưa biết cảnh tỉnh. Nên lại khiển Hợp Tán Nhi Hải Lung sang nước khanh ngay, dụ
khanh đến triều. Ví như có cớ khác tất không đến được, thì có thể lệnh con em
vào triều. Ngoài ra, hộ khẩu bản quốc nếu chưa có sổ sách cố định, thì việc thu
phú, điều binh lấy gì châm chước? Nếu dân của khanh thực sự ít mà thu nhiều thì
sức sẽ không đủ. Nay ghi chép hộ khẩu của khanh là để so đo nhiều ít nhiều mà định
thể chế binh phú. Việc điều binh này cũng không lệnh đi xa nơi nào xa xôi, chỉ đi
theo lính thú Vân Nam, hiệp lực với nhau mà thôi.”
Quang Cảo khiển Lê Khắc Phục, Lê Văn
Túy dâng biểu tạ tội.
Năm
thứ 14 (1277), Quang Cảo mất, người trong nước lập thế tử Nhật Huyên [16], khiển
Trung Thị đại phu Chu Trọng Nhan, Trung Đế đại phu Ngô Đức Thiệu đến triều.
Hoàng đế khiển bọn Thượng thư Sài Thung mang chiếu giục Nhật Huyên đến cửa khuyết.
Trước kia, sứ giả đi lại chỉ theo đường Thiện Xiển [17], Lê Hóa [18]. Đến nay, Hoàng
đế mệnh Thung từ Giang Lăng trực chỉ Ung Châu để tới Giao Chỉ. Bọn Thung đến trại
Vĩnh Bình ở Ung Châu, thì Nhật Huyên khiển người dâng thư nói:
“Gần đây nghe nói quốc sứ hạ mình đến tệ cảnh,
dân biên giới không ai không kinh hãi, không biết là sứ nước nào.”
Thung gửi điệp đáp:
“Lễ bộ Thượng thư và các quan vâng mệnh Hoàng
thượng, đi theo đường Ung Châu vào nước khanh, có đem quân binh hộ tống dẫn đường
cùng với ngựa trạm. Nên đến địa đầu đón tiếp.”
Nhật Huyên sai Ngự Sử trung tán Tri
phiên Phán viện sự Đỗ Quốc Kế đến trước, Thái úy nước này đem bách quan ra bờ
sông Phú Lương [19] nghênh đón. Nhật Huyên tới quán, sợ sứ giả. Tuyên chiếu
xong, Thung nói rằng:
“Nước ông nội phụ hơn hai mươi năm, cha ông
nhận mệnh làm vương. Ông không xin mệnh mà tự lập, nay lại không đến triều,
ngày sau triều đình khép tội thì mới biết vì sao bị trách.”
Nhật Huyên vẫn theo lệ cũ bày yến tiệc
ở hành lang, bọn Thung từ chối đến dự. Khi về quán, Nhật Huyên khiển Phạm minh tự
[20] đến tạ tội, đổi sang mở tiệc ở điện Tập Hiền, tự nói rằng:
“Vua trước qua đời, ta mới nối ngôi. Thiên
sứ đến đây khiến ta vừa lo vừa sợ. Nghe nói rằng chúa Tống còn thơ ấu, Thiên tử
thương tình phong cho tước công, với tiểu quốc cũng ắt được thương xót. Còn lễ đích
thân vào chầu, thì ta sinh trưởng nơi thâm cung, không hiểu phong thổ, sợ chết
dọc đường. Đợi thiên sứ về, sẽ kính cẩn dâng biểu tỏ lòng thành, hiến kèm vật lạ.”
Thung nói:
“Chúa Tống chưa đầy mười tuổi, cũng sinh
trưởng nơi thâm cung, mà sao cũng đến kinh sư được? Song việc ngoài chiếu chỉ,
không dám nghe mệnh. Hơn nữa ta thực đến triệu ông, không nhận của đút.”
Khi
bọn Thung về, Nhật Huyên khiển Phạm minh tự, Trịnh Quốc Toản, Đỗ Quốc Kế dâng biểu
trần tình, nói rằng: “Cô thần bẩm sinh khí chất yếu ớt, hơn nữa đường sá hiểm
trở, sợ chết phơi xương trắng, khiến Bệ hạ đau buồn, mà không ích được một phần
vạn cho Thiên triều. Cúi mong thương thần, cho vợ góa con côi được giữ lấy tính
mệnh, để phụng sự Bệ hạ đến cùng. Đấy là niềm vui của cô thần, là phúc lớn của
sinh linh tiểu quốc.” Cống kèm hai con voi thuần. Triều đình bàn rằng chúng
thoái thác kháng mệnh, dây dưa nhiều năm tháng, nên tiến binh đến cõi, khiển
quan hỏi tội. Hoàng đế không nghe, lại khiển Thượng thư Lương Tăng đi dụ Nhật
Huyên đến chầu: “Nếu quả không đích thân đến được, thì tích vàng để thay mình,
lấy hai viên ngọc trai thay mắt, kèm với nho sĩ, phương kĩ, thợ thuyền mỗi loại
hai người để thay cho dân. Bằng không thì sửa sang thành trì của khanh, để đợi
thiên binh đến.” Nhật Huyên khiển chú mình là Di Ái đến triều.
Năm
thứ 18 (1281), lập An Nam Tuyên úy ty, lấy Bốc Nhan Thiếp Mộc Nhi làm sứ, đặt
riêng liêu thuộc. Nhật Huyên chống cự không nhận. Hoàng đế xuống chiếu rằng:
“Ngày trước vào lúc An Nam quốc vương Trần
Quang Cảo còn sống, từng lấy sáu việc trong lệ cũ vỗ về các nước Man của tổ
tông để dụ hắn, nhưng chưa từng phụng hành. Quang Cảo đã mất, con trai hắn lại
không xin mệnh mà tự lập. Khiển sứ triệu đến thì thoái thác không đi. Nay lại lấy
cớ, cố trái mệnh trẫm, chỉ lệnh chú mình vào chầu. Đã muốn hưng binh đến đánh,
nhưng thấy khanh nội phụ vào cống đã lâu năm, nên không muốn vì kẻ vô tri mà làm
hại mạng dân! Khanh đã xưng bệnh không vào triều, thì nay cho khanh được uống
thuốc tự dưỡng, mà lập chú khanh Di Ái thay khanh làm An Nam quốc vương, cai trị
dân chúng khanh. Giả sử trăm họ nước khanh dần có mưu đồ khác, thì khi đại binh
thâm nhập có giết hại tính mệnh cũng đừng oán giận, đấy thực là lỗi của bách
tính nước khanh thôi!”
Năm ấy, Nhật Huyên lại khiển Nguyễn Đạo
Học đến cống. Vì thế gia Sài Thung làm Hành An Nam Tuyên úy sứ giả Nguyên soái,
Lý Chấn làm phó, đem 1.000 quân tân phụ [21] hộ tống Ái về nước, nhưng bị Nhật
Huyên giết đi.
Năm
thứ 21 (1284), [Nhật Huyên] lại khiển Trung đại phu Trần Khiêm Phủ cống chén ngọc,
bình vàng, chuỗi ngọc, áo cổ vàng cùng các thứ vượn trắng, bồ câu xanh. Ban đầu,
Trấn Nam vương Thoát Hoan vâng mệnh đánh Chiêm Thành, khiển Kinh Hồ hành tỉnh Tả
thừa Đường Ngột Thương [22], Hữu thừa Toa Đô cầm binh hội. Hoàng đế nghi An Nam
và Chiêm Thành liên lạc với nhau, nên lệnh quân mượn đường đi qua nước này, lại
đòi Nhật Huyên chở lương đến Chiêm Thành giúp quân. Lại mệnh Ngạc Châu Đạt lỗ
hoa xích Triệu Trứ Chuy [23] đi dụ.
Khi
quan quân đến huyện Hoành Sơn, em họ Nhật Huyên là Hưng Đạo vương Trần Tuấn cầm
binh chống giữ cõi, tâu rằng đường thủy từ bản quốc đến Chiêm Thành đều không
tiện, nguyện hiến lương để lui quân. Khi đến châu Vĩnh, gửi công văn lệnh Nhật
Huyên mở đường nghênh đón. Đến châu Tư Minh, vương lại hạ lệnh đốc thúc. Đến châu
Lộc, nghe tin Nhật Huyên giấu binh ở huyện Khâu Ôn và dãy Khâu Cấp để chặn đường,
bèn chia quân tiến theo hai đường: Vạn hộ Lý La Hợp Đáp Hòa, Chiêu thảo sứ Tề
Thâm đi đường phía tây, tiến qua huyện Khâu Ôn; Khiếp tiết [24] Tát Lược Nhi, Vạn
hộ Lý Bang Hiến đi đường phía đông, tiến qua dãy Khâu Cấp. Vương đem đại binh
đi sau, lại khiển Tổng bả A Lý dụ rằng lí do hưng binh thực vì Chiêm Thành,
không phải vì An Nam.
Đến
huyện Cấp Bảo, quân An Nam trốn không tiến ra. Quân phía đông phá ải Khả Ly và
cửa quan Anh Nhi, bắt bọn gián điệp Đỗ Vĩ chém đi. Đến ải Động Bản, lại gặp
quân An Nam, đánh bại được chúng. Thực tế Tuấn ở ải Nội Bàng, nên tiến binh đến
thôn Biến Trụ, dụ hắn thu binh mở đường để đón quân nhà vua, nhưng không nghe.
Quan quân chia làm sáu đường tiến công đến sông Vạn Kiếp, phá hết các ải. Tuấn
vẫn đem hơn 1.000 chiếc thuyền bày trận suốt 10 lí ở Vạn Kiếp. Thủy quân các
cánh đánh liên tiếp đều thắng cả. Vương và các quan hành tỉnh đích thân lên bờ
đông đốc thúc, đoạt hơn 20 chiếc thuyền, Tuấn thua chạy. Quan quân thừa cơ buộc
bè làm cầu, vượt sông Phú Lương. Bấy giờ quân phía tây cũng phá ải Chi Lăng.
Tháng
giêng năm sau (1285), Nhật Huyên tự cầm 100.000 quân, đại chiến với quan quân ở
Bài Than [25]. Bọn Nguyên soái Ô Mã Nhi, Chiêu thảo sứ Nạp Hải, Trấn phủ Tôn
Lâm Đức đánh bại được hắn. Nhật Huyên lui về giữ sông Thiệp Lô, rồi lại thua chạy,
bèn lệnh Nguyễn Giao Duệ dâng thư tạ tội và xin lui quân. Đại quân vượt sông,
đóng trại dưới chân thành An Nam.
Hôm
sau, vương vào quốc đô, biết Nhật Huyên tiếm xưng là Đại Việt quốc chúa Hiến
Thiên Thể Đạo Đại Minh Quang Hiếu hoàng đế, nhường ngôi cho thái tử, dùng ấn “Hạo
thiên thành mệnh chi bảo”. Nhật Huyên đã ở ngôi Thái thượng hoàng, kiến lập con
trai mình làm quốc vương, dùng niên hiệu Thiệu Bảo. Cung thất hắn ở có năm cửa,
treo biển viết “Đại Hưng chi môn”, tả hữu có cửa ngách. Chính điện có chín
gian, gọi là “Thiên An ngự điện”. Cửa chính nam gọi là “Triều Thiên các”. Bấy
giờ số quân An Nam bỏ thuyền lên bờ vẫn còn đông. Nhật Huyên dẫn tông tộc, quan
lại về Thiên Trường, Trường Yên đồn tụ. Tuấn lại lĩnh hàng vạn binh thuyền tụ ở
cửa sông Vạn Kiếp, chỉnh đốn quân để đợi.
Gặp
lúc Đường Ngột Nhiên [26], Toa Đô đốc binh từ Chiêm Thành đến, hợp với đại
quân. Khiển Hữu thừa Khoan Triệt dẫn Vạn hộ Mang Cổ Nhiên, Bột La Hà Đáp Nhĩ
theo đường bộ; Tả thừa Lý Hằng dẫn Ô Mã Nhi theo đường thủy, đánh bại binh thuyền
của Tuấn. Nhật Huyên khiển em trai là Văn Chiêu vương Trần Duật [27] và hầu tước
Trịnh Đình Toản chặn đánh ở Nghĩa An [28], lại thua. Con của anh trai hắn là
Chương Hiến hầu Trần Kiện cũng thua ở cửa biển, nên Kiện đem binh hàng.
Ba
ngày sau, Trấn Nam vương đuổi đánh Nhật Huyên ở sông Đại Hoàng [29]. Nhật Huyên
sợ, khiển người tông tộc là Trung Hiến hầu Trần Dương đến xin hòa, lại khiển
người hầu cận Đào Kiên dâng em gái [30] đến trong quân, xin bãi binh. Trấn Nam
vương khiển Nghê thiên hộ dụ rằng: “Đã xin hòa, sao không tự mình đến bàn?”
Nhật Huyên không nghe, đến cửa biển An Bang [31], bỏ thuyền bè giáp trượng, trốn
vào núi non. Quan quân thu được hàng vạn chiếc thuyền, chọn chiếc tốt để chèo,
còn lại đốt hết. Nhật Huyên chạy đến phủ Thanh Hóa, em trai là Chiêu Quốc vương
Trần Ích Tắc đem người tông tộc là Tú Hoãn cùng vợ con, quan lại ra hàng. Nhật
Huyên khiển người tông tộc là Trung Hiến hầu Trần Dương và bọn Nguyễn Duệ đến
xin hòa, nên vương giữ lại trong quân.
Các
tướng thấy người An Nam tuy thua nhiều nhưng binh càng tăng, thế chuyển thịnh. Đã
mưa nắng dịch bệnh, mà tử thương cũng nhiều, không thể đến được Chiêm Thành nữa,
nên quyết kế rút binh. Vương bất đắc dĩ dẫn quân về. Đến sông Như Nguyệt, Nhật
Huyên khiển binh đuổi theo sau. Đi đến sông Sách [32], chưa kịp vượt thì phục
binh trong rừng đổ ra. Toa Đô, Lý Hằng đều trúng tên mà chết. Quan quân dốc sức
đánh, cố hộ tống vương rời cõi, mất mát quá nửa. Nguyễn Duệ trốn vào trong đầm
cỏ hòng bỏ chạy, quan quân bắt được chém đi. Đấy là lần thua thứ nhất năm Chí
Nguyên thứ 22 vậy. Việc báo lên, Hoàng đế phẫn nộ, bèn bãi binh đánh Nhật Bản,
đại cử phạt An Nam.
Tháng
4 năm thứ 23 (1286), xuống chiếu rằng: “Trước thấy nước ngươi đã xưng thần
phục, nhiều năm cống hiến, mà không tự thân vào triều, nên nhân chú ngươi Trần
Di Ái đến thì đem việc An Nam ủy cho; khi về liền bị giết hại, Đạt lỗ hoa xích
khiển đi cũng khước từ không nhận, đến việc dụng binh với Chiêm Thành cũng
không cung cấp [binh lương], để đến nỗi Trấn Nam vương Thoát Hoan phải tiến
binh. Nay vì người họ hàng gần nước ngươi là Trần Ích Tắc, Trần Tú Hoãn lo dòng
dõi, đất nước bị tiêu diệt, dấy vạ đến kẻ vô tội, khuyên ngươi đến triều mà rốt
cuộc vẫn không thấy nghe, nên tự rời bỏ theo về. Trẫm thương lòng trung hiếu, đặc
cách phong Ích Tắc làm An Nam quốc vương, Trần Tú Hoãn làm Phụ Nghĩa công để thờ
cúng họ Trần. Mệnh Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích hưng binh bình định nước ngươi. Tội lỗi
trước đây chỉ do mình ngươi, quan lại, người dân không có can dự. Ngày chiếu
thư đến, tất cả phải trở về làng xóm, an sinh lạc nghiệp.”
Năm
ấy, Nhật Huyên khiển Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vinh vào cống. Hoàng đế giữ
bọn Nghĩa Toàn ở lại kinh sư. Bề tôi ở Hồ Nam hành tỉnh là Ty Ca tâu rằng: “Mấy
năm liên tiếp đánh Nhật Bản và dụng binh với Chiêm Thành, trăm họ chuyên chở mỏi
mệt, sĩ tốt gặp chướng lệ tử thương nhiều, quần thần sầu thán, tứ dân phế nghiệp.
Nay lại có việc với Giao Chỉ, động đến trăm vạn dân chúng, không phải là thương
yêu cho sĩ dân vậy. Nên khoan thư sức trăm họ, tích lương thực, sửa giáp binh,
đợi năm đến thiên thời có lợi, khi ấy đại cử cũng chưa muộn.” Xuống chiếu lệnh
cho Ích Tắc tạm trú ở Ngạc Châu năm nay.
Năm
sau (1287), lấy A Bát Xích làm Trưng Giao Chỉ hành tỉnh Tả thừa, phát 70.000
quân Mông Cổ, Hán, Khoán [33] ba tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng; 500 chiếc
thuyền; 6.000 lính Vân Nam; 15.000 lính người Lê bốn châu ngoài biển [34]; bọn
Hải đạo Vạn hộ Trương Văn Hổ chở 170.000 thạch lương, chia đường đánh dẹp An
Nam. Lấy Áo Lỗ Xích làm Bình chương chính sự, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm Tham tri
chính sự, cùng chịu tiết chế của Trấn Nam vương. Nhật Huyên khiển Trung đại phu
Nguyễn Văn Thông vào cống.
Tháng
11, quân đến châu Tư Minh, lưu lại 2.000 binh để Vạn hộ Hạ Chỉ, Trương Ngọc thống
lĩnh. Lệnh Hữu thừa Trình Bằng Phi cầm 10.000 lính Hán, Khoán theo đường phía
tây vào Vĩnh Bình; Áo Lỗ Xích cầm 10.000 người theo vương qua đường phía đông
vào Nữ Nhi quan. Tiếp và Ô Mã Nhi cầm thủy quân theo đường biển, đi qua các cửa
Ngọc Sơn, Song Môn, An Bang, gặp hơn 400 chiếc thuyền địch, đánh bại được, đoạt
thuyền của chúng. Trình Bằng Phi đi qua ba cửa ải Lão Thử, Hãm Sa, Tỳ Trúc,
đánh 17 trận đều thắng.
Trấn
Nam vương tiến đến kênh Mao La, tấn công trại Phù Sơn, phá được. Vương mệnh Bằng
Phi đem 20.000 binh giữ cửa Vạn Kiếp, lại sửa hàng rào ở hai núi Phổ Lại, Chí
Linh. Mệnh Ô Mã Nhi, A Bát Xích hợp binh thủy lục áp sát thành An Nam. Các quân
nhà vua vượt sông Phú Lương đến chân thành. Nhật Huyên chạy về đồn Cảm Nam. Vương
công thành, hạ được.
Tháng
giêng năm thứ 25 (1288), Nhật Huyên và con trai chạy ra biển, đuổi theo không kịp.
Khiển Ô Mã Nhi ra cửa Đại Bàng đi đón Trương Văn Hổ. Thuyền của Vân Hổ đến núi
Vân Đồn thì gặp quân địch, sát thương tương đương. Đến biển Lục Thủy, thuyền địch
tăng đông, ước chừng không chống nổi, hơn nữa thuyền buộc nhau không đi được,
bèn đổ gạo xuống biển mà tự chạy về Quỳnh Châu.
Bấy
giờ quan quân thiếu ăn, chia đường vào núi tìm lương. Vương tự dẫn binh về Vạn
Kiếp. A Bát Xích cầm tiền phong đoạt ải buộc cầu, phá cửa Tam Giang, công hạ 32
đồn, lấy được 113.000 thạch thóc. Ô Mã Nhi theo cửa Đại Bàng đến Tháp Sơn, gặp
hơn nghìn chiếc thuyền địch, đánh bại được. Đến cửa biển An Bang đón thuyền
lương của Trương Văn Hổ mà không thấy, nên lại về Vạn Kiếp, lấy được hơn 40.000
thạch thóc, chia binh đóng ở hai trại Phổ Lại, Chí Linh.
Nhật
Huyên khiển em họ là Hưng Ninh vương Trần Tung nhiều lần đến hẹn ra hàng, hòng
làm quân ta mỏi mệt. Ban đêm, lại khiển cảm tử sĩ cướp doanh trại các tướng. Trấn
Nam vương tức giận, mệnh Vạn hộ Giải Chấn đốt đô thành của chúng, nhưng tả hữu
can gián nên mới thôi. Thần Noa tổng quản Cổ Nhã Ngu hiến kế rằng: “Quân nên
về, không nên giữ.” Các tướng lại nói thời tiết đã nóng, lương lại cận, nên
rút quân. Vương nghe theo lời ấy. Hợp quân của Tiếp và Ô Mã Nhi theo đường thủy
đi trước, bị quân An Nam chặn đánh, toàn quân mất sạch [35]. Bằng Phi chọn lính
tinh nhuệ hộ tống vương về, đến ải Nội Bàng thì bị quân An Nam tập kích, nhờ Vạn
hộ Trương Quân đem 3.000 người tinh nhuệ chặn hậu, dốc sức đánh để rời cửa
quan. Gián điệp biết Nhật Huyên chia binh hơn 300.000 giữ ải Nữ Nhi và dãy Khâu
Cấp, nối liền hơn trăm lí để chặn đường về. Các quân vừa đánh vừa đi, người An
Nam thừa thế cao bắn tên độc, Trương Ngọc, A Bát Xích đều chết. Vương theo huyện
Đơn Dĩ chạy về châu Lộc, đi đường tắt đến châu Tư Minh, mệnh Áo Lỗ Xích đem các
quân về bắc. Nhật Huyên liền khiển quan hầu cận Lý Tu, Đoàn Khả Dung cống
phương vật, lại tiến người vàng thế thân chuộc tội và trả tù binh đã bắt, đều
xăm trán chữ “Thiên tử binh” hoặc “Đầu Nam triều”. Đây là lần thua thứ hai năm
Chí Nguyên thứ 25.
Tháng
12 năm ấy, Hoàng đế lại chiêu dụ Nhật Huyên rằng: “Khanh dâng biểu nhận tội,
tưởng đã biết hối cải. Nhưng thấy sai người đến tâu thay, thì khanh có ba điều
đáng trách: được gọi mà không đến là một, Thoát Hoan đem quân sang mà không đón
là hai, Toa Đô đến mà cản trở là ba. [Nói rằng] nếu được tha thứ sẽ khiển con
tin, tiến người đẹp, cống phương vật hằng năm. Giả vờ kính cẩn như thế, thì có
ích gì? Nếu quả tỏ lòng thành, sao không đến đây giãi bày trực tiếp? Có chăng
là nghe tin khiển tướng thì liền lo trốn chạy; thấy lui quân thì nói phao vào cống.
Thờ bề trên như thế, thực giả biết ngay. Khanh thử nghĩ, để cho Lĩnh Ngoại sống
sót, không lo binh họa, thì chi bằng quy mệnh nơi khuyết đình, hưởng ân sủng
vinh quy. Trong hai kế sách ấy, bên nào được bên nào mất? Nay khanh một lần lỡ
lầm mà can hệ đến tồn vong một phương, nên khiển bọn Liêu Đông Đề hình Án sát sứ
Lưu Đình Trực, Lễ bộ Thị lang Lý Tư Diễn, Binh bộ Lang trung Vạn Nô, cùng Đường
Ngột Thương, Hợp Tán Ung Cát Lợi Thương, dẫn bọn Nguyễn Toàn 24 người trước sai
đến về nước, đích thân dụ. Trẫm sẽ tha hết lỗi trước, phong lại cho khanh. Nếu
vẫn chần chừ, thì khó lòng nguôi giận.”
Tháng
3 năm sau (1289), bọn Đình Trực đến An Nam, Nhật Huyên khiển bọn Trung đại phu
Trần Khắc Minh dâng biểu tạ tội, lại nói: “Đã sai Tòng Nghĩa lang Nguyễn Thịnh
đi theo Tích Lý Cát đại vương [36] đến cửa khuyết. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp
tham chính đang sắp tiễn về thì Phàn tham chính bệnh mất, hỏa táng xong thì bọn
Vạn hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính hộ tống thê thiếp ông ấy về nhà. Ô Mã Nhi tham
chính giữa đường thuyền lật, chìm ở sông mà mất, cứu được thê thiếp ông ấy, đợi
sau đấy sẽ đưa riêng về. Quân nhân mất mát hơn 8.000 người, vợ góa ngoài số đã
tìm kiếm được đầu mục, quân nhân muốn cưới thì đều theo thiên sứ về Trung Quốc.”
Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thực ra bị An Nam giết, trong biểu nói Tiếp bệnh mất, Ô Mã
Nhi chết đuối, đều là lời lấp liếm.
Năm
thứ 27 (1290), Nhật Huyên mất, con trai là Nhật Tôn [37] khiển bọn bầy tôi
Nghiêm Trọng Duy, Trần Tử Lương [38] đến báo tin buồn, lại xin nối tước, dâng
biểu nói rằng: “Con côi sáu thước, sớm được cha dạy rằng chớ bỏ việc thần sự
Thiên triều, một lòng tuế cống, nhất nhất nhớ lấy. Đặc khiển bọn Trung Lượng đại
phu Nghiêm Trọng Duy, Hữu Vũ đại phu Trần Tử Lương mang đồ cống tín vật tiến dâng.”
Hoàng đế chọn Trương Lập Đạo làm Lễ bộ Thị lang, triệu Nhật Tôn đến triều. Nhật
Tôn khiển bọn bầy tôi Nguyễn Đại Chi, Hà Duy Nghiêm dâng biểu xin xá tội, lại hẹn
năm sau sẽ đến cửa khuyết. Triều đình bàn: đến triều trước, xá tội sau. Nhật
Huyên sợ, cuối cùng không đến. Lại khiển Thượng thư Lương Tằng, Lang trung Trần
Phu sang dụ lần nữa rằng: “Tội lỗi nước khanh đã tự giãi bày, Trẫm còn nói
gì nữa. Nhưng nói sợ chết dọc đường, không đến triều được. Có thứ gì sinh ra mà
được an toàn lâu dài sao? Thiên hạ cũng có đất nào bất tử đâu? Trẫm chưa dụ
khanh, thì đã mưu đồ lấy lời gian xảo lừa dối, thì nghĩa ở đâu?”
Nhật
Tôn lại khiển bồi thần Đào Tử Kỳ tạ tội, dâng lời chúc vạn thọ và sách biểu
vàng. Hoàng đế ghét hắn kháng mệnh, lại bàn hưng quân, rồi giữ Tử Kỳ ở Giang
Lăng, mệnh bọn Lưu Quốc Kiệt và Chư vương Thác Lý Cát cùng xuất quân. Lập Hồ Quảng
An Nam hành tỉnh, cấp hai ấn, mua 1.000 chiếc thuyền trăm hộc của người Đản [39],
dùng 56.570 quân, 350.000 thạch lương, 30.000 thạch thức ăn cho ngựa, 210.000
cân muối, dự tính cấp lương thưởng cho quan quân thì quân nhân, thủy thủ đều được
cho 2 đĩnh tiền giấy. Thủy lục chia đường cùng phát, lệnh Ích Tắc theo quân đến
Trường Sa.
Gặp
lúc Thế Tổ băng, Thành Tông nối ngôi, nên bãi binh, cho Tử Kỳ về nước. Nhật Tôn
dâng biểu chia buồn, đồng thời hiến phương vật. Khiển Thị lang Lý Khản, Lang
trung Tiêu Thái Đăng mang chiếu dụ rằng: “Trẫm nối giữ đại thống, vừa mới
lên ngôi, nên ân xá hết thảy, bất kể xa gần. Riêng An Nam khanh cũng được khoan
tuất, đã sắc hữu ty bãi binh. Từ nay trở đi phải biết sợ trời thờ lớn. Nhớ lấy
cho kĩ.”
Năm
Nguyên Trinh thứ 2 (1296), Nhật Tôn dâng biểu xin phong tước nhưng không cho;
xin kinh Đại Tạng thì được ban. Năm Đại Đức thứ 1 (1297), khiển Nguyễn Văn Tịch,
Phạm Cát vào cống. Từ đấy đến năm thứ 10 (1306), An Nam thường đi 5 người vào cống.
Năm
thứ 3 (1299), bọn Thừa tướng Hoàn Trạch tâu: “Sứ giả An Nam là Đặng Nhữ Lâm vẽ
trộm bản đồ cung uyển, mua riêng địa đồ và sách cấm, lại ghi chép riêng về quân
tình biên giới phía bắc và các việc ở sơn lăng. Nên lấy đại nghĩa trách cứ.”
Khiển Thượng thư Mã Hợp Mã, Thị lang Kiều Tông Lượng dụ rằng: “Bọn Nhữ Lâm
làm việc không phép, theo lí nên trị đến cùng. Trẫm độ lượng với thiên hạ, sắc
hữu ty thả về. Từ nay sứ giả phải tuyển trạch kĩ, có cầu xin gì phải thật tận
tình. Chớ ngại sửa chữa, để sau hối hận.” Năm thứ 5 (1301), mệnh bọn Thượng
thư Mã Hợp Ma đưa bọn sứ giả Đặng Nhữ Lâm về nước, dụ An Nam vẫn mà ba năm cống
một lần như trước.
Khi
Vũ Tông lên ngôi, khiển Lễ bộ Thượng thư An Lữ Oai, Binh bộ Thị lang Cao Phục Lễ
ban chiếu lên ngôi cho An Nam, viết rằng: “Nước nhà ta dùng vũ công bình định
thiên hạ, dùng văn đức vỗ về người xa. Nhớ rằng An Nam từ đời ông đời cha đã tu
chức cống, Trẫm rất lấy làm khen ngợi. Gần đây Tiên hoàng ra đi, Trẫm đang cầm quân
ở phương bắc thì được tông thích, nguyên huân suy tôn, nói rằng Trẫm là cháu
đích của Thế Tổ, là chi phái của hoàng phiên. Phên dậu hiệu thuận ở ngoài, thần
dân trông mong ở dưới, lòng người như một, thần khí theo về. Trẫm thuận theo
dân tình, đã lên ngôi ở Thượng Đô [40]. Nay khiển Thượng thư A Lý Khôi
[41] dụ chỉ, vẫn thể theo tình thương yêu, làm vững tấm lòng thờ lớn. Giữ
yên nước khanh, để đúng ý Trẫm.” Năm ấy, An Nam khiển Nguyễn Khắc Tuân, Phạm
Y Tư vào cống, chúc mừng lên ngôi. Năm Chí Đại thứ 2 (1309), lại khiển Đồng Ứng
Thiều, Tạ Đại Huân vào cống.
Khi
Nhân Tông lên ngôi, Thế tử Trần Nhật Sáo [42] khiển sứ đến triều. Lấy Lễ bộ Thượng
thư Nãi Mã Đài, Lại bộ Thị lang Nhiếp Cổ Bá, Binh bộ Thị lang Trung Đỗ Dư A đi
sứ An Nam, ban chiếu đổi niên hiệu rằng: “Tổ tông ta đón nhận thiên mệnh, vỗ
về muôn nước, uy đức đầy đủ, hòa xa hợp gần. Mới rồi Tiên đế cỡi rồng lên trời,
Trẫm không nỡ bỏ vương hầu, thần dân, nên đã lên ngôi ở Thượng Đô, lấy năm sau
làm năm Hoàng Khánh thứ nhất. Nay khiển bọn Thượng thư Nãi Mã Đài ban chiếu
tuyên dụ, lại cho một bản lịch mới. Khanh kính nhận lịch pháp, thì phải sửa
sang chức phận bầy tôi, chớ bỏ lòng thành phụng sự nước lớn của tổ tiên mình, để
đáp lại ý vỗ về phương xa của Trẫm.”
Năm
Hoàng Khánh thứ 2 (1313), hơn 30.000 quân An Nam đột nhiên xâm phạm châu Trấn
An, lại chia binh phạm châu Quy Thuận [43], đồn tụ chưa rút. Thế tử nước này lại
đích thân lĩnh binh hãm châu Dưỡng Lợi, nói phao là Tri châu sự Triệu Giác bắt
thương nhân châu Tư Lãng của mình, lấy một nén vàng, xâm lấn hơn nghìn khoảnh
ruộng, nên đến giết để trả thù. Xu mật viện sai Thiên hộ Lưu Nguyên Hanh đến Hồ
Quảng xem xét. Nguyên Hanh đích thân tới các thôn Thượng Do, Trung Do, Hạ Do, rồi
gửi điệp dụ nước An Nam rằng:
“Xưa Hán đặt chín quận, Đường lập năm quản,
An Nam thực là đất đã hưởng thanh giáo. Huống hồ hiến địa đồ dâng lễ cống, trên
dưới chia rõ ràng; ban thưởng hậu đền đáp nhẹ, ý vỗ về cũng đến được. Thánh triều
nào thực đâu có phụ quý quốc, mà nay lại tự tác không yên, dấy nhiễu cõi này. Đất
đai thôn Trung Do không lớn lao gì, nhưng bờ cõi, quan ải của nước nhà rất hệ
trọng. Số bị cướp giết đều là hộ dân thuộc sổ sách triều đình, tỉnh viện chưa
dám tâu báo. Sao còn chưa xem xét kẻ nào thực là chủ mưu việc sai trái ấy?”
An Nam gửi điệp đáp:
“Biên
ải là ổ bọn chuột, tự tác không yên, bản quốc nào có biết đâu?”
Lại đem nhiều của đút đến. Nguyên Hanh
lại gửi điệp trách rằng nói dối không thực, khước từ của đút, lại nói:
“Vàng bạc, ngà voi quý quốc coi là quý,
nhưng sứ giả coi không tham là quý. Xin thẩm sát sự tình, báo rõ cho tôi.”
Nhưng đường sá xa xôi, lời lẽ dối trá,
cuối cùng chẳng nắm được điểm chính. Nguyên Hanh tâu lên rằng:
“Trước kia người An Nam từng xâm lấn biên cảnh
Vĩnh Bình, nay lại bắt chước thành quen. Kế sách hiện nay chẳng gì bằng khiển
quan tuyên dụ chúng trả ruộng đất, thả nhân dân của ta, rồi lệnh kẻ đương quyền
nước ấy làm rõ cương giới, tìm người chủ mưu gây hấn đem giết ở biên giới, răn
đe quan lại biên giới chớ được xâm vượt. Nên lập trại mộ binh ở Vĩnh Bình, đặt
quan thống lĩnh, cấp ruộng đất, trâu bò nông cụ, lệnh tự cày ăn, sắp xếp bộ
ngũ, thưởng phạt rõ ràng, để khi có nguy cấp thì đầu đuôi ứng cứu nhau. Như vậy
thì biên cảnh yên tĩnh, mãi được vô lo.”
Việc báo lên, thì sắc rằng đợi sứ An
Nam đến sẽ dụ.
Năm
Diên Hựu thứ 3 (1316), mệnh Hồ Quảng hành tỉnh dụ An Nam trả Chiêm Thành quốc
vương. Trước kia, người An Nam tấn công nước Chiêm Thành, bắt vương nước ấy đem
về rồi rút binh [44]. Khi đón lạy chiếu thư, [An Nam] dâng biểu tạ tội.
Năm
thứ 7 (1320), Nhật Sáo mất, thế tử Nhật Hoảng [45] khiển bồi thần Đặng Cung Kiệm,
Đỗ Sĩ Du đến cống. Năm Chí Trị thứ 1 triều Anh Tông (1321), khiển Lại bộ Thượng
thư Giáo Hóa, Lễ bộ Lang trung Văn Củng ban chiếu lên ngôi.
Khi
Thái Định đế lên ngôi, xuống chiếu cho thế tử An Nam là Trần Nhật Hoảng rằng: “Nước
nhà ta gánh vác thiên mệnh, vỗ về muôn nước, đức trạch ban khắp hết thảy Hoa Hạ.
Mới rồi tiền triều rời bỏ thần dân, Trẫm là cháu đích của Dụ Hoàng, được tông
thất, đại thần suy tôn, đi từ cõi dựng nền của Thái Tổ mà vào nối ngôi trời, lấy
năm Giáp Tý làm năm Thái Định thứ nhất. Nay khiển Thượng thư Mã Hợp Mưu, Lễ bộ
Lang trung Dương Tăng Thụy ban chiếu bá cáo, ban khanh một cuốn lịch Thụ Thời.
Nhớ rằng từ thời ông thời cha khanh đã tu cống nội phụ nhiều năm, nước nhà ta
có khanh thật là tốt lành. Thấy thủ thần Chiêm Thành dâng biểu nói quan lại
biên giới của khanh nhiều lần phát binh xâm lấn, Trẫm vì thế mà đau buồn, không
biết vì sao khanh lại như vậy, liệu là thực chăng? Trẫm làm vua thiên hạ, trông
xa nhìn gần, lo giữ yên người dân, khiến tất cả được hưởng phúc. Khanh nên thể
theo lòng của Trẫm, răn bảo sĩ tốt, bảo vệ dân lành, chớ được bỏ ý trung thuận
nhiều đời của mình.” Nhật Hoảng khiển bồi thần Mạc Tiết Phu vào cống.
Năm
thứ 2 (1325), Ninh Viễn Tri châu Thiêm Sáp tâu: “Thổ quan An Nam là Áp Na đánh
cướp các trại Bản Mạt của thần”. Sắc Áp Na trả lại số người đã bắt. Năm thứ
3 (1326), tướng An Nam là Nguyễn Khấu xâm lấn đất châu Tư. Mệnh Hồ Quảng hành tỉnh
sắc binh phòng bị.
Trước
kia, Trần Ích Tắc sống lâu ở Ngạc Châu, nhận hư chức Hồ Quảng hành tỉnh Bình
chương. Vợ con hắn đều bị bản quốc giết hại. Triều Thành Tông, ban 500 khoảnh
ruộng ở Hán Dương cho tự kiếm sống, nhưng rồi đoạt lại. Vũ Tông thương hắn già
cả, gia ân mệnh hậu, ra chế rằng:
“Đem thân về triều, tức bỏ nghịch mà theo
thuận; lấy tước ban thưởng, là kính đức mà đền công. Chiếu lệnh ban khắp, khiến
người nghe theo. Trần Ích Tắc khanh biết sợ trời mà thờ lớn, lo giữ cõi để an
dân. Mộ điều chân thật của đế vương, thấy cơ hội mà làm; sợ tổ tông không được
thờ cúng, tự tụ họp mà đến. Đem lòng thành trung hiếu, tỏ rõ cho Thế Hoàng [47];
được hưởng ân trời đất, ban thưởng cho cố quốc. Ban đầu Chu vương nổi giận mà
phạt tội điếu dân; cuối cùng Nghiêu, Thuấn chỉnh đốn mà rút quân hết thảy.
Chúng mê muội không phục, khanh giữ trọn lòng thành. Cứu kẻ chết đuối cháy nhà,
theo quân nhà vua một lần tái chinh; được đối đãi tại sứ quán, ở lại Hồ Quảng mười
năm có lẻ. Thân phụng sự suốt bốn triều, chí không đổi khác tiết cũ. Biết Trẫm
lên ngôi, liền đến triều đình. Vì thế gia phẩm trật mới để tỏ rõ ân, vẫn giữ chức
tước như cũ. Ô hô! Trong ổn ngoài yên, Trẫm không quên cột đồng phía nam;
thương gần gọi xa, khanh càng kính sao trời phía bắc. Giương cao ân mệnh, mãi
giữ một lòng. Được gia Kim Tử Quang Lộc đại phu, An Nam quốc vương, cấp ruộng
như cũ.“
Năm Thiên Lịch thứ 2 triều Nhân Tông (1329),
[Ích Tắc] mất, thọ 76 tuổi. Ban 5.000 xâu tiền, thụy là Trung Ý.
Năm
thứ 3 (1330), thế tử Trần Nhật Phụ [48] khiển bọn bồi thần Đặng Thế Đình 24 người
đến cống.
Năm
Chí Thuận thứ 1 (1330), có tên giặc Bế Phúc ở Quảng Nguyên [49] cướp động La Hồi
ở Long Châu [50]. Vạn hộ ở Long Châu gửi công văn vặn hỏi An Nam, thì điệp trả
lời viết: “Từ khi quy thuận thiên triều, cung kính chức phận bầy tôi, nối tiếp
giữ cương giới, thuộc về một mối. La Hồi nguyên lệ vào bản quốc nên dấy tranh
đoạt, đấy đều do quan lại biên giới gây hấn, giả tên là Bế Phúc. Quan nước ngài
nên lập tức trị đến cùng.” Mệnh Long châu Vạn hộ Nhưng Viễn đi bắt.
Năm
sau (1331), Nhật Phụ khiển bầy tôi Đoàn Tử Trinh, Lê Khắc Tốn đến cống. Năm thứ
3 (1332), khiển Lại bộ Thượng thư Tát Chích Ngõa đi sứ An Nam. Năm Nguyên Thống
thứ 2 triều Huệ Tông (1334), khiển Thượng thư Thiếp Trụ, Lễ bộ Lang trung Trí
Hy Thiện đi sứ An Nam, đem lịch Thụ Thời ban cho. An Nam khiển Đồng Hòa Khanh,
Nguyễn Cố Phu vào cống, chúc mừng lên ngôi.
Về
sau vào năm Chí Nguyên thứ 1 (1335), phong thế tử nước ấy Trần Đoan Ngọ [51]
làm quốc vương. Nhật Phụ lui về học đạo, tự lấy hiệu Thái Hư tử, chỉ có biểu
chương vẫn mang tên hắn. Từ năm thứ 4 đến năm thứ 6 lại khiển sứ vào cống. Ban
đầu, triều đình thấy Nhật Huyên không xin mệnh mà tự lập, nên bốn đời từ Nhật
Huyên trở đi đều gọi là An Nam thế tử. Đến Đoan Ngọ, mới phong làm An Nam quốc
vương.
Chế
độ nước này [52]: Chia làm 13 đạo,
52 phủ, 219 châu huyện, kỳ thực 1 đạo không bằng 1 quận của Trung Quốc. Đi đến
đâu đều thấy đặt trường học. Chỉ Lạng Sơn có thành, gạch màu đỏ tía, tương truyền
do Mã Phục Ba [53] xây. Vương cung dùng ngói vàng, thềm cao không quá 1 trượng.
Nhà dân dùng mái tranh che cửa, chỉ cao khoảng 3 thước, ra vào phải cúi đầu. Văn
tự giống với Trung Thổ, ngoài ra có mấy chục chữ riêng, thêm nhiều bộ bản địa để
tỏ ra khác biệt, cũng chỉ lưu hành trong nước. Sản vật thì có nhiều lúa nước,
không có lúa mạch. Trọng trồng dâu nuôi tằm, có nghề dệt vải, không trồng cây
bông. Nơi ở tre mọc thành rừng, che ánh nắng.
Việc
dùng người: văn có các chức Tam công, Thái úy, Bình chương chính sự, Phụ quốc,
Tả hữu Bộc xạ, Tham tri chính sự, Ngự sử đài, Hàn lâm tự, Thượng thư; võ có các
chức Đô nguyên soái, Tiết độ sứ, Đại tướng quân, Nội điện tiền Chỉ huy sứ, Chiêu thảo sứ. Lại có quan trấn một
phương và thế tập hương ấp. Cứ ba năm một lần khảo thí, ban đầu thi kinh nghĩa,
thứ đến thi tứ lục, ba là thi thơ, bốn là thi sách. Các đạo lấy kẻ đỗ ba trường
làm Sinh đồ, đỗ bốn trường làm Cống sinh, thi Hội đỗ bốn trường là Tiến sĩ,
không có định ngạch.
Các
dòng họ là Nguyễn, Bùi, Ngô, Dương, Đào, Hoàng, Vũ, Tống, Trần, Hồ, ngoài ra không
có họ khác. Nam nữ đều xõa tóc, dùng
sáp thơm bôi, không để rối bời. Lại dùng thuốc trét răng, làm răng đen đi nhưng
bóng. Trời không nắng mưa cũng đội nón. Thấy quý nhân thì nói “ông già” [54], dịch ra là quan lớn. Ăn thịt sống. Không dùng ghế ngồi. Nhà giàu
mới có giường đệm, kẻ bình dân trải cỏ mà nằm. Thích quái dị, chuộng thờ quỷ, không theo lời dạy của hai họ [55]. Hôn nhân thì nhà giàu có dùng người
mai mối, tuân theo lễ chế; nhà nghèo trai gái ưng ý nhau rồi chuẩn bị tiền là
thành vợ chồng, dù cùng họ cũng không tránh. Riêng đám tang đều dựa theo lễ xưa.
Cấm quan dân không được chọn đất, chỉ cho táng giữa ruộng, chỉ quốc vương mới
được chọn đất ở trên núi. Binh lính không có giáp trụ, chỉ dùng các thứ hỏa
khí, trường đao, lao, khiên mây. Ra trận coi voi là quan trọng. Cây cỏ bốn mùa
không héo. Ngày đêm không phân biệt dài ngắn, người xưa gọi là Nhật Nam hẳn là
không sai.
Chú thích:
1. Giao Chỉ:
Nguyên văn viết nhầm thành “Hiệu Chỉ” (效趾)
2.
Trên thực tế lãnh thổ nước ta tương ứng với ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật
Nam, không phải chỉ mỗi một quận.
3.
Chiêu Thịnh: Đúng ra là Chiêu Thánh. Chiêu Thánh công chúa là hiệu của Lý Chiêu
Hoàng trước khi lên ngôi vua.
4.
Trần Quang Cảo: Tức là Trần Thánh Tông. Nguyên sử chép là Quang Bính (光暠). Chữ “Bính” (昺)
và chữ “cảo” (暠) có tự dạng gần giống nhau.
5.
Hành tại: Nơi đóng dinh tạm thời của vua chúa hoặc tướng soái.
6.
Nạp Lạt Đinh: Phiên âm từ tên gốc là Nur ad-Din. Nguyên sử viết là Nột Lạt
Đinh, Đại Việt sử ký toàn thư viết là Nậu Lạt Đinh.
7.
Nạp khoản: Nghĩa là dâng lễ vật để tỏ ý quy thuận.
8.
Đức âm: Chỉ chiếu chỉ của vua chúa.
9.
Đạt lỗ hoa xích: Phiên âm từ tiếng Mông Cổ “darughachi”, là chức quan cai trị đặt
ở các vùng lãnh thổ trong đế quốc Mông Cổ.
10.
Chiêm Lạp: Tức Chân Lạp.
11.
Sơn Lão: Chỉ chung các sắc dân thiểu số miền núi.
12.
Hồi Cốt: Còn viết là Hồi Hột hay Hồi Kê. Nguyên gốc là phiên âm từ tên sắc tộc
Uyghur ở vùng tây bắc Trung Quốc ngày nay; về sau được áp dụng với người theo đạo
Islam, nên mới gọi Islam là “Hồi giáo”.
13.
Ở đây phía Nguyên đang viện dẫn lệ đầu thời Chu, quy định rằng khanh tướng nhà
Chu sẽ có địa vị cao hơn quân chủ các nước chư hầu, nên áp dụng vào trường hợp này
thì vua nước ta phải bái lạy sứ Nguyên.
14.
Vy thần: Từ khiêm xưng, nghĩa là “người bề tôi hèn mọn”.
15.
Nguyên văn chép nhầm đoạn này ở sau chiếu chỉ năm Trung Thống thứ 12 của Hốt Tất
Liệt, nay sửa lại.
16.
Nhật Huyên: Tức là Trần Nhân Tông. Lúc bấy giờ vua Thánh Tông vẫn còn sống, chỉ
lui về làm Thái thượng hoàng, nhưng phía Nguyên thấy nước ta thay ngôi nên cho
rằng Thánh Tông đã mất. Ở các đoạn sau, Nguyên sử dùng cái tên “Nhật Huyên” nhập
nhằng giữa Thánh Tông và Nhân Tông.
17.
Thiện Xiển: Nay là Côn Minh, Vân Nam, Trung Quốc.
18.
Lê Hóa: Còn gọi là Lê Hoa. Tên cửa ải xưa, nằm ở vùng giáp ranh giữa tỉnh Hà
Giang và Vân Nam ngày nay.
19.
Sông Phú Lương: Tức sông Hồng ngày nay.
20.
Phạm minh tự: Tức là viên Minh tự họ Phạm, không phải tên thật.
21.
Quân tân phụ: Là quân sĩ cũ của nhà Tống đã quy thuận triều Nguyên.
22.
Đường Ngột Thương: Nguyên sử viết là Đường Ngột Đãi. Chữ “thương” (觴)
và chữ “đãi” (䚟) tự dạng gần giống nhau.
23.
Triệu Trứ Chuy: Nguyên sử viết là Triệu Trứ
24.
Khiếp tiết: Phiên âm chữ “kheshig”, là danh hiệu dành cho thị vệ của các khả hản
Mông Cổ.
25.
Bài Than: Tức là Bình Than, nằm ở khoảng hợp lưu giữa sông Đuống và sông Thái
Bình.
26.
Đường Ngột Nhiên: Tức là Đường Ngột Thương nhắc đến ở trên.
27.
Trần Duật: Tức Trần Nhật Duật.
28.
Nghĩa An: Tức Nghệ An.
29.
Sông Đại Hoàng: Tức sông Hoàng Long ngày nay.
30.
Tức là An Tư công chúa.
31.
Cửa biển An Bang: Nay thuộc Quảng Ninh.
32.
Sông Sách: Tức đoạn sông chảy qua Nam Sách, Hải Dương ngày nay.
33.
Khoán: Tên một sắc dân ở vùng Hồ Bắc, Trung Quốc.
34.
Bốn châu ngoài biển: Tức bốn châu Nhai, Quỳnh, Đạm, Vạn trên đảo Hải Nam, Trung
Quốc. Người Lê hay Hlai là một sắc dân bản địa ở Hải Nam.
35.
Tức là trận Bạch Đằng.
36.
Tích Lý Cát: Một trong các tướng Nguyên bị bắt ở Bạch Đằng. Toàn thư viết là
Tích Lệ Cơ Ngọc, thì chữ “ngọc” (玉) là nhầm
từ chữ “vương” (王).
37.
Trần Nhật Tôn: Là tên khác của Trần Nhân Tông.
38.
Trần Tử Lương: Nguyên văn chép nhầm chữ “trần” (陳) thành
chữ “đông” (東). Câu sau viết rõ là Trần Tử Lương.
39.
Người Đản: Một sắc dân sinh sống trên thuyền chài ở ven biển đông nam và nam
Trung Quốc.
40.
Thượng Đô: Kinh đô cũ của nhà Nguyên, nằm trên địa phận Nội Mông ngày nay. Sau
khi Hốt Tất Liệt dời triều đình về Đại Đô (nay là Bắc Kinh), Thượng Đô vẫn đóng
vai trò lễ nghi.
41.
A Lý Khôi: Tức là An Lữ Oai nhắc đến ở trên. Vì không có quy chuẩn phiên âm nên
trong sử nhà Nguyên, tên nhân vật hay địa danh phi-Hán có thể được viết bằng
nhiều cách khác nhau.
42.
Trần Nhật Sáo: Tức là Trần Anh Tông. Nguyên sử chép là Trần Nhật Trường. Vì tên
các vua Trần thường có bộ Nhật hoặc bộ Hỏa, nên ở đây “Trường” (㷃)
là chữ đúng, còn Tân Nguyên sử chép thành “Sáo” (套) là nhầm
lẫn.
43.
Trấn An, Quy Thuận: Nay đều thuộc Bách Sắc, Quảng Tây, Trung Quốc.
44.
Chỉ sự kiện Trần Anh Tông thân chinh Champa năm 1311, bắt được vua nước này là
Chế Chí.
45.
Trần Nhật Hoảng: Tức Trần Minh Tông.
46.
Ý nói đến việc lên ngôi tại Thượng Đô.
47.
Thế Hoàng: Tức Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt.
48. Trần Nhật Phụ: Tức Trần Hiến
Tông.
49. Quảng Nguyên: Nay thuộc tỉnh
Cao Bằng.
50. Long Châu: Nay thuộc Sùng Tả,
Quảng Tây, Trung Quốc.
51. Trần Đoan Ngọ: Thời điểm bấy
giờ Trần Hiến Tông vẫn tại vị, nên Đoan Ngọ hẳn là tên khác của ông. Câu “Nhật
Phụ lui về học đạo” ở sau là nói đến Thượng hoàng Trần Minh Tông.
52. Vì Tân Nguyên sử được
biên soạn vào thời Trung Hoa dân quốc, nên trong phần này tác giả đã chép lại
thông tin địa chí từ nhiều sách thời Minh, Thanh. Những thông tin ở sau hầu hết
là về thời Lê trung hưng, không phải thời Trần.
53. Mã Phục Ba: Tức Mã Viện.
54. Ông già: Nguyên văn là “ông
trà” (翁茶). Đây
là từ tôn xưng với người quyền quý thời xưa.
55. Lời dạy của hai họ: Tức là họ
Thích và họ Lão, chỉ Phật giáo và Đạo giáo.
(Người dịch: Quốc Bảo)

Comments
Post a Comment